Chân Không

Chân Không

1630849572

Đức Phật thọ ký cho A Nan Đà đạt được Bí Mật Thanh Tịnh Thiền

TÔN GIẢ A NAN ĐÀ: Từ chỗ ngồi đứng dậy, ra trước Đức Phật, trịch vai áo bên phải, quì gối, chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng:

-Kính bạch Đức Thế Tôn, theo sự chỉ dẫn của ông Cư sỹ Duy Ma Cật, chúng con đã biết pháp môn tu Thanh tịnh thiền này rồi, kính xin Đức Thế Tôn cho phép con trình nơi Pháp hội này, kính xin Đức Thế Tôn cho phép con?

Đức Phật liền bảo ông A Nan Đà:

- Này A Nan Đà, ông trình bày xem coi có đúng không, nếu đúng Như Lai sẽ ấn chứng cho.

Ông A Nan Đà trình bày với Đức Phật và đại chúng:

-Kính bạch Đức Thế Tôn: Người tu Thanh tịnh thiền phải hiểu căn bản nơi Thế giới loài Người như sau:

  1. Thế giới này, các động vật và thực vật là cấu tạo bằng 4 thứ: Đất -Nước - Gió - Lửa.
  2. Tất cả là do điện từ Âm Dương duy trì và kéo luân chuyển, gọi là luân hồi.
  3. Từ loài Người cũng như động vật hay thực vật đều phải sống bằng Tổng nghiệp của mình.

Người tu Thanh tịnh thiền, bắt buộc phải hiểu 3 nguyên lý nói trên thì mới mong tu đúng được. Còn không biết chính xác như vậy, dù có ngồi đó tu mấy đời đi chăng nữa, cũng là làm chuyện phí công vô ích.

Đức Phật khen ông A Nan Đà:

Ông hiểu căn bản như vậy là rất phải.

Ông A Nan Đà tiếp tục trình bày thêm:

-Như Lai đã dạy chúng con: Trong Tánh của mỗi con người ai cũng có đến 16 thứ; ngoài 16 thứ này bên ngoài lai bi bao bọc thêm 8 muôn 4 ngàn cái bong bóng ảo giác nữa. Vì trong Tánh của mỗi con người có cái Tưởng là mạnh nhất, nên con người có rất nhiều Tưởng như:

1. Tưởng mình dụng công tu Thiền như thế nào đó để được giải thoát.

2. Tưởng mình lạy lục ai đó để xin họ giúp mình giải thoát.

3. Tưởng mình cầu xin ai đó cứu mình giải thoát.

Nói đến cái Tưởng, thì không thể nào nói hết được.

Vì vậy, nơi trái đất này, ai Tưởng ra gì là họ làm như vậy. Nhưng, hầu hết những cái Tưởng của loài Người Tưởng ra là để lường gạt người kém hiểu biết để lấy tiền của họ.

Đức Phật khen ông A Nan Đà lần thứ hai:

- Ông trình bày rất phải. Vậy, con người muốn thoát ra ngoài sự cuốn hút Nhân quả của vật chất Trần gian phải thực hiện như thế nào?

Ông A Nan Đà trình với Đức Phật:

- Kính bạch Đức Thế Tôn: Con người muốn thoát ra ngoài sự cuốn hút của vật chất Tràn gian này phải thực hiện 3 phần như sau:

1. Vô trụ với vật chất.

2. Phải nhận được tánh Thanh tịnh của chính mình và hằng sống với tánh Thanh tịnh ấy.

3. Phải tạo ra được công đức.

Đức Phật nghe ông A Nan Đà trình bày được căn bản nên hỏi ông:

-Vậy, 3 căn bản nói trên ông đã thực hiện được phần nào chưa?

Ông A Nan Đà trình với Đức Phật:

-Con hiểu, nhưng con chưa thực hiện được.

Đức Phật dạy ông:

-Phần này, Như Lai thọ ký cho ông: Sau này ông sẽ đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền", nhờ sư huynh ông là ông Ma Ha Ca Diếp, ông Ma Ha Ca Diếp sẽ truyền “Bi mật Thanh tịnh thiền” cho ông làm Tổ sư thiền đời thử 2.

Ông A Nan Đà được Đức Phật thọ ký làm Tổ Thiền Thanh tịnh đời thứ 2, ông hết sức vui mừng lề tạ Đức Phật rồi lui ra.

Trích: Đức Phật dạy tu Thiền Tông

Đức Phật thọ ký cho A Nan Đà đạt được Bí Mật Thanh Tịnh Thiền
Chân Không

Chân Không

1630849572

Đức Phật thọ ký cho A Nan Đà đạt được Bí Mật Thanh Tịnh Thiền

TÔN GIẢ A NAN ĐÀ: Từ chỗ ngồi đứng dậy, ra trước Đức Phật, trịch vai áo bên phải, quì gối, chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng:

-Kính bạch Đức Thế Tôn, theo sự chỉ dẫn của ông Cư sỹ Duy Ma Cật, chúng con đã biết pháp môn tu Thanh tịnh thiền này rồi, kính xin Đức Thế Tôn cho phép con trình nơi Pháp hội này, kính xin Đức Thế Tôn cho phép con?

Đức Phật liền bảo ông A Nan Đà:

- Này A Nan Đà, ông trình bày xem coi có đúng không, nếu đúng Như Lai sẽ ấn chứng cho.

Ông A Nan Đà trình bày với Đức Phật và đại chúng:

-Kính bạch Đức Thế Tôn: Người tu Thanh tịnh thiền phải hiểu căn bản nơi Thế giới loài Người như sau:

  1. Thế giới này, các động vật và thực vật là cấu tạo bằng 4 thứ: Đất -Nước - Gió - Lửa.
  2. Tất cả là do điện từ Âm Dương duy trì và kéo luân chuyển, gọi là luân hồi.
  3. Từ loài Người cũng như động vật hay thực vật đều phải sống bằng Tổng nghiệp của mình.

Người tu Thanh tịnh thiền, bắt buộc phải hiểu 3 nguyên lý nói trên thì mới mong tu đúng được. Còn không biết chính xác như vậy, dù có ngồi đó tu mấy đời đi chăng nữa, cũng là làm chuyện phí công vô ích.

Đức Phật khen ông A Nan Đà:

Ông hiểu căn bản như vậy là rất phải.

Ông A Nan Đà tiếp tục trình bày thêm:

-Như Lai đã dạy chúng con: Trong Tánh của mỗi con người ai cũng có đến 16 thứ; ngoài 16 thứ này bên ngoài lai bi bao bọc thêm 8 muôn 4 ngàn cái bong bóng ảo giác nữa. Vì trong Tánh của mỗi con người có cái Tưởng là mạnh nhất, nên con người có rất nhiều Tưởng như:

1. Tưởng mình dụng công tu Thiền như thế nào đó để được giải thoát.

2. Tưởng mình lạy lục ai đó để xin họ giúp mình giải thoát.

3. Tưởng mình cầu xin ai đó cứu mình giải thoát.

Nói đến cái Tưởng, thì không thể nào nói hết được.

Vì vậy, nơi trái đất này, ai Tưởng ra gì là họ làm như vậy. Nhưng, hầu hết những cái Tưởng của loài Người Tưởng ra là để lường gạt người kém hiểu biết để lấy tiền của họ.

Đức Phật khen ông A Nan Đà lần thứ hai:

- Ông trình bày rất phải. Vậy, con người muốn thoát ra ngoài sự cuốn hút Nhân quả của vật chất Trần gian phải thực hiện như thế nào?

Ông A Nan Đà trình với Đức Phật:

- Kính bạch Đức Thế Tôn: Con người muốn thoát ra ngoài sự cuốn hút của vật chất Tràn gian này phải thực hiện 3 phần như sau:

1. Vô trụ với vật chất.

2. Phải nhận được tánh Thanh tịnh của chính mình và hằng sống với tánh Thanh tịnh ấy.

3. Phải tạo ra được công đức.

Đức Phật nghe ông A Nan Đà trình bày được căn bản nên hỏi ông:

-Vậy, 3 căn bản nói trên ông đã thực hiện được phần nào chưa?

Ông A Nan Đà trình với Đức Phật:

-Con hiểu, nhưng con chưa thực hiện được.

Đức Phật dạy ông:

-Phần này, Như Lai thọ ký cho ông: Sau này ông sẽ đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền", nhờ sư huynh ông là ông Ma Ha Ca Diếp, ông Ma Ha Ca Diếp sẽ truyền “Bi mật Thanh tịnh thiền” cho ông làm Tổ sư thiền đời thử 2.

Ông A Nan Đà được Đức Phật thọ ký làm Tổ Thiền Thanh tịnh đời thứ 2, ông hết sức vui mừng lề tạ Đức Phật rồi lui ra.

Trích: Đức Phật dạy tu Thiền Tông

Chân Không

Chân Không

1630393851

Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền Tông

Những người tìm hiểu hay tu theo đạo Phật, ít có người nghe đến hai danh từ Huyền Ký của Đức Phật dạy.

Vì sao vậy?

– Vì tập Huyền Ký này, Đức Phật dạy vào một năm sau cùng trước khi Đức Phật nhập Niết bàn. Đức Phật chỉ dạy riêng cho 15 đệ tử của Ngài là những vị đã giác ngộ “Yếu chỉ Thanh Tịnh Thiền” trở lên. Sau cùng, Đức Phật trao tập Huyền Ký này cho ông Ma Ha Ca Diếp, là vị Tổ Thiền tông đời thứ Nhất, nhờ vị Tổ này truyền riêng theo dòng Thiền tông. Vì vậy, các kinh điển phổ thông chúng ta không thấy tập Huyền Ký này là vậy.

Vì sao Đức Phật không truyền theo các kinh điển phổ thông?

Chúng tôi xin trích một phần nhỏ nguyên nhân mà Đức Phật dạy trong tập Huyền Ký của Ngài như sau:

Ngày xưa, tín ngưỡng của dân nước Ấn Độ chia ra làm 2 thành phần:

Thành phần thứ nhất:

* Những người bình dân họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Thượng Đế” sinh ra.

– Con người và vạn vật cũng do Thượng Đế làm ra.

– Hai bên “Vai giáp” của mỗi con người có 2 vị “Thần chấm điểm” việc làm thiện hay ác của con người.

– Khi con người chết đi, thì được các vị “Phán quan” xem việc làm thiện và ác của họ ở mức độ nào mà trình với “Vua Diêm Vương”:

– Nếu họ làm thiện nhiều, thì được Vua Diêm Vương trình lên Thượng Đế cho lên “Thiên Đàng” ở hưởng sung sướng đời đời.

– Còn làm ác nhiều, thì Vua Diêm Vương tự Ngài sai “Ngưu Đầu Mã Diện” đem giam vào các tầng Địa Ngục để trị tội.

Thành phần thứ hai:

* Những người tu hành họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Đấng Tạo Hóa” sanh ra.

– Loài người và vạn vật cũng do Đấng Tạo Hóa làm nên.

– Họ cũng tin tưởng: Loài người sống nơi trái đất này có 2 con đường đi sau khi chết:

Một: Làm thiện thì được lên cõi Trời hưởng phước.

Hai: Làm ác phải bị đày vào Địa Ngục để thọ lãnh quả xấu do họ tự tạo ra nơi thế giới này.

Do vậy:

Dạng người tu hành thứ nhất:

– Họ chủ trương làm 2 việc như sau:

Một: Mỗi ngày phải “Sám hối” những việc làm sai trái của họ.

Hai: Cầu xin Đấng Tạo Hóa rước họ về “Nước Trời” ở để không còn bị khổ ở Thế gian này nữa.

Dạng người tu hành thứ hai: Họ tin tưởng rằng:

– Muốn hết tội lỗi do mình làm ra, duy nhất chỉ xuống sông Hằng tắm cho sạch thì mới hết tội lỗi được.

– Và nhiều tín ngưỡng khác nữa.

Trên đây là người xưa của nước Ấn Độ tin và làm như vậy.

Mục Lục

  1. Lời giới thiệu
  2. Cấu trúc Càn khôn vũ trụ
  3. Các hành tinh có sự sống
  4. Quy luật luân hồi nơi Trái đất
  5. Cõi trời Ngọc Hoàng Thượng Đế
  6. Bảng phân loại Tần số 18 Tầng Địa Ngục
  7. Cách hình thành một Trung Ấm Thân
  8. Bài sám hối theo Thiền tông
  9. Đức Phật truyền Bí mật thanh tịnh thiền cho Ma Ha Ca Diếp
  10. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông – P1
  11. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông – P2
  12. Bài kệ 60 câu Đức Phật dạy về những gì trong Tánh Phật
  13. Bài kệ 20 câu của Thiền sư Ni Đức Thảo
  14. Bài kệ ngộ Thiền của Tiền Thân Đức Phật ở Trời Đâu Suất
  15. Ngài A Nan trình với Đức Phật
  16. Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận Tập Huyền ký của Đức Phật
  17. Điều kiện cấp giấy và phong Thiền
  18. Đức Phật dạy về Tập Huyền Ký
  19. Ngài Ma Ha Ca Diếp hỏi về cất chùa?
  20. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về Tâm thanh tịnh?
  21. Ngài Phú Lâu Na hỏi về Bồ Tát?
  22. Ngài A Nan hỏi về chùa?
  23. Tỳ kheo Phất Trần Thi hỏi về Trái đất?
  24. Tỳ kheo A Lạt Đề hỏi về 37 pháp quán trợ đạo?
  25. Tỳ kheo Trường An Thịnh hỏi về Càn khôn vũ trụ?
  26. Tỳ kheo Lễ Thành An hỏi về Bồ Tát và A La Hán?
  27. Cư sỹ Liên Trường Phát hỏi về Kiến Tánh?
  28. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về nhìn thấy Bể Tánh?
  29. Cư sỹ Lương Khánh Hoàng hỏi về tự tu tập?
  30. Tỳ kheo Uất Phương Lam hỏi về Thượng Đế?
  31. Cư sỹ Lưỡng Hành Tuyền hỏi về khấn nguyện?
  32. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về  Lời nguyền của Ma Vương?
  33. Cư sỹ Lễ Trân Châu hỏi về quy luật luân hồi của Trái đất?
  34. Tỳ kheo A Luật Đà hỏi về Trung Ấm Thân?
  35. Ngài A Nan hỏi Đức Phật 5 câu?
  36. Tám phần dạy sau cùng của Đức Phật
  37. Đức Phật dạy thêm về Tập Huyền ký
  38. Bài kệ Kính mừng Phật Đản của Tổ Mã Minh
  39. Buổi lễ công bố Huyền ký của Lục Tổ Huệ Năng
  40. Tổ Thiền tông Việt Nam
  41. Giới thiệu chùa Thiền tông Tân Diệu
  42. Tôn chỉ – Cương Lĩnh của chùa Thiền tông Tân Diệu
  43. Nội qui của chùa Thiền tông Tân Diệu
  44. Lời giải bày của viện chủ chùa Thiền tông Tân Diệu
  45. Bài kệ phong Thiền gia cho soạn giả
  46. Đức Phật dạy riêng cho Thiền tông gia
  47. Lời dạy của Đức Phật
  48. Các ấn phẩm đã xuất bản

Xem thêm: Thiền Tông

#thientong #giacngo #giaithoat

Chân Không

Chân Không

1630560221

Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp đã ngộ thiền như thế nào?

Khi Đức Phật đưa cành hoa sen trước mặt 1250 đệ tử của Ngài. Mọi người đều ngơ ngác, Chỉ duy nhất có Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Vậy, Ngài Ma Ha Ca Diếp đã ngộ được điều gì từ cành sen đó?

Vị Tổ sư Thiền tông đời thứ nhất:

- Ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa), lớn hơn Đức Phật 1 tuổi, là một trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật.

- Khi Đức Phật giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa xong, Đức Phật đã 78 tuổi, còn Ngài 79 tuổi. Cũng là thời cơ truyền “Bí mật Thiền tông” cho Tổ vị thứ nhất, nên một buổi sáng mùa xuân, trên mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn, Đức Phật tập họp đông đảo đồ chúng, tay phải Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên, Ngài ngó từ phải qua trái, từ gần ra xa, mọi người ai ai cũng ngơ ngác, riêng Ngài Ma Ha Ca Diếp mỉm miệng cười, Đức Phật hỏi Ngài Ma Ha Ca Diếp:

- Tất cả mọi người không cười, sao ông lại cười?

Ông Ma Ha Ca Diếp trình thưa với Đức Phật:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, nhờ Đức Thế Tôn tay cầm cành sen đưa lên, nên con đã nhận ra Tánh Thấy chân thật rõ ràng của con, nên con mừng quá nên con mỉm cười.

Đức Phật hỏi Ngài Ma Ha Ca Diếp:

- Ông thấy như thế nào?

Ngài Ma Ha Ca Diếp, không trả lời thấy như thế nào, mà Ngài trình thưa cùng Đức Phật bằng bài kệ 44 câu như sau:

Sen xuân nở tại Linh Sơn

Thiền hoa thanh tịnh ơn trên Phật Đà

Ý Phật con đã nhận ra

Tánh Thấy, ý thấy, được qua luân hồi.

Bao năm khổ hạnh con thôi

Sống với tánh Thấy, luân hồi màng chi

Hoa sen con nhận tức thì

Niết bàn thanh tịnh tìm chi mệt người.

Phật ôi, Con đã ngộ rồi

Thấy trong thanh tịnh, là nơi quê nhà

Phật tánh, con đã nhận ra

Khi thấy, Ý thấy vượt xa muôn trùng.

Tánh Thấy hết sức lạ lùng

Muôn đời ngàn kiếp, lạ lùng mới hay

Thiền Thanh Đức Phật chỉ bày

Hôm nay thật sự, nhận ngay Tánh mình.

Nhận được, con chỉ lặng thinh

Nở ra nụ cười vui lắm Phật ôi

Trước kia, Phật dạy con “Thôi”

Mà thôi không được, luân hồi con đi.

Hoa sen con thấy tức thì

Tự nhiên dứt hết, không chi nói lời

Nụ cười thay thế chữ “Thôi”

Để trình Đức Phật, đôi môi thay lời.

Linh Sơn, con đã rõ lời

Thiền Thanh con biết, luân hồi dứt ngay

Trước huynh đệ, con trình bày

Môn thiền Thanh tịnh, khó ai nhận liền.

Mấy ngàn người bỏ tu riêng

Dụng công tìm kiếm khắp miền sơn lâm

Nhờ con lặng lẽ âm thầm

Bất ngờ nhận được, không lầm chuyển luân.

Hôm nay, thật sự con mừng

Mừng vì sinh tử đã dừng với con

Linh Sơn con quyết lòng son

Giữ môn thiền học thường còn thế gian.

Hể ai muốn hết gian nan

Chỉ cần Thanh tịnh, mới sang quê nhà

Lòng con xin nói hết ra

Cám ơn Đức Phật, con xa luân hồi.

Thiền Thanh kỳ diệu Phật ôi!

Chỉ cần thanh tịnh, luân hồi bỏ con

Con nay kính nguyện lòng son

Truyền môn thiền học, được còn mai sau.

Ngài Ma Ha Ca Diếp trình lên Đức Thế Tôn bài kệ 44 câu mà Ngài đã đạt được “Bí mật Thiền tông” nhân Ngài nhìn thấy cành hoa sen trên tay Đức Phật.

Đức Phật nói với các vị Tỳ kheo và đại chúng:

- Này các vị Tỳ kheo và đại chúng, hôm nay Như Lai kiểm thiền Thanh tịnh bằng cành hoa sen 1.250 các ông, duy nhất chỉ có ông Ma Ha Ca Diếp nhận ra được chánh pháp nhãn tạng Niết bàn diệu tâm, đây là pháp môn màu nhiệm mà Như Lai dạy nơi thế giới này.

Như Lai dạy rõ pháp môn Thanh tịnh thiền này được lưu truyền như sau:

Việc truyền thiền Thanh tịnh này, đúng 15 ngày sau, Như Lai sẽ làm lễ truyền thiền Thanh tịnh này cho ông Ma Ha Ca Diếp, để thay Như Lai dạy pháp môn thiền Thanh tịnh này, sau khi Như Lai diệt độ.

Ông A Nan Đà và các đệ tử lớn của Như Lai cũng như đại chúng, thiết lập bàn hương và phẩm vật, để Như Lai làm lễ truyền thiền Thanh tịnh, trước sự chứng minh của Mười Phương Chư Phật, các ông hãy tựu hội về cho đầy đủ.

Vì sao các ông phải tựu hội?

- Vì đây là buổi lễ truyền thiền Thanh tịnh đầu tiên cũng đồng nghĩa dòng chảy của “Mạch nguồn thiền Thanh tịnh” của Như Lai dạy đã khởi đầu tại đây. Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, tiếp theo là 35 đời Tổ nữa, được phân chia như sau:

- Ở nước Ấn Độ này có 28 đời Tổ.

- Nước lớn ở phương Đông có 5 đời Tổ.

- Còn nước nhỏ phương Đông, cũng gọi là nước Rồng có 3 đời Tổ. [ Nước Rồng là Việt Nam chúng ta ngày nay ]

Đến đây, Mạch nguồn thiền Thanh tịnh bị quên lãng, mãi đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng mới có người nhận lại được, người này cho pháp môn thiền Thanh tịnh phổ biến đi khắp Năm châu.

Ông Ma Ha Ca Diếp, khi ông sắp tịch diệt, ông hãy truyền pháp môn Thanh tịnh thiền này lại cho ông A Nan Đà, để làm Tổ sư thiền đời thứ hai. Như Lai dạy các ông như sau: Khi ông A Nan Đà nhận Tổ vị thứ hai, phải đổi danh là Thiền tông.

Vì sao phải đổi danh như vậy?

Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, bắt đầu khởi dòng thiền của nó, tức nó được truyền theo “Tông pháp thiền” rõ ràng. Lần đầu tiên, Như Lai truyền thiền Thanh tịnh, người dự bao nhiêu cũng được, nhưng khi ông Ma Ha Ca Diếp truyền Thiền tông lại cho ông A Nan Đà, chỉ có ông A Nan Đà, ông Xá Lợi Phất và các đệ tử lớn của Như Lai dự thôi.

Vậy, ngày trăng tròn tháng 2 này, Như Lai sẽ chánh thức hành lễ truyền Thanh tịnh thiền cho ông Ma Ha Ca Diếp. Vậy, các ông mỗi người một việc, lo buổi lễ này cho thật chu đáo, ai lo việc gì cố gắng cho tốt.

Đức Phật vừa nói xong, tất cả giải tán và lo công việc của mình.

Sáng ngày trăng tròn tháng 2, ban sáng, ánh sáng mặt trời nắng gắt chói chang, nhưng khi mặt trời vừa nhô lên đến lưng chừng núi, cũng là lúc Đức Phật và đệ tử của Ngài cũng như tất cả Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di tập họp đông đủ. Bất ngờ, trên không trung mây ngũ sắc bao quanh núi Linh Sơn, làm bầu trời sáng rực và mát dịu.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mặc áo choàng lấp lánh ánh hào quang, từ từ bước lên lễ đài, và nói:

- Kính lạy Đức Phật cổ Nhiên Đăng và Mười Phương Chư Phật đã thành Phật trước tôi.

- Hôm nay, tại mặt bằng rộng lớn nơi núi Linh Sơn ở cõi Ta bà này. Tôi là Bồ tát Hộ Minh, từ cung trời Đâu Suất, xuống trần gian này làm con của vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da. Được Đức vua và Hoàng hậu đặt cho cái tên là Thái tử Tất Đạt Đa, tôi tu đã đạt được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, biết được 6 pháp môn tu nơi thế giới Dục giới này.

- Trong đó có 5 pháp môn tu theo vật lý, có kết quả theo chiều vật lý. Một pháp môn tu phi vật lý, tức tu để được giác ngộ rồi giải thoát ra khỏi thế giới Dục giới này.

[ 6 pháp môn tu mà Đức Phật dạy, link đọc: https://buddha.to/p/2438a29a50c8]

- Ông Ma Ha Ca Diếp, là một trong mười đệ tử lớn của tôi, khi tôi kiểm thiền, ông đã đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền”. Vì vậy, hôm nay tại lễ đài nơi núi Linh Sơn cõi Nam Diêm Phù Đề này, trước sự chứng minh của Đức Phật cổ Nhiên Đăng là vị sư phụ đã thọ ký cho tôi, sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, cũng như Hằng hà sa số Chư Phật Mười Phương, tức những vị đã thành Phật trước tôi từ vô lượng kiếp trước.

- Hôm nay, tôi đã hoàn thành dạy 6 pháp môn tu mà các vị Phật xưa cũng đã dạy. Vì còn một thời gian ngắn nữa, tôi sẽ nhập Niết bàn để trở về nguồn cội của chính mình. Cũng như các vị Phật trước, vị Phật nào trước khi rời thế giới vật lý này, đều phải truyền thiền Thanh tịnh lại cho đệ tử nào đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền”, để người đó làm Tổ sư thiền thứ nhất.

- Hôm nay, nơi cõi Nam Diêm Phù Đề này, khi tôi kiểm thiền, ông Ma Ha Ca Diếp là người đầu tiên nhận được “Chánh pháp nhãn tạng Niết bàn diệu tâm”, là pháp môn mầu nhiệm không truyền theo kinh điển thông thường, mà phải truyền riêng theo dòng thiền của nó.

- Do vậy, hôm nay tôi kính trình lên Đức Phật cổ Nhiên Đăng cũng như Chư vị Phật quá khứ Mười Phương. Ông Ma Ha Ca Diếp là người đã đạt “Bí mật Thanh tịnh thiền”, có làm kệ nói lên được chỗ chân thật những thứ trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh. Nên hôm nay, tôi làm lễ truyền Thanh tịnh thiền này. Vậy, kính xin Đức Phật Nhiên Đăng và Mười Phương Chư Phật chứng minh cho tôi.

[ Công thức giải thoát mà Ngài truyền đi là gì? Link đọc: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=101428251737971&id=100056123883481 ]

Trích quyển 8 "Cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ Thiền Tông"

#thientong 

Chân Không

Chân Không

1629906979

Cuộc đời của Đức Phật bị luân hồi và thành Phật

Sách Trắng Thiền Tông

01. Bài kệ 12 câu của Đức Phật dạy
02. Phật Giới
03. Tam Giới
04. Giải thích Cõi Trời Vô Sắc
05. Giải thích Cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ
06. Giải thích Cõi Trời Dục Giới
07. Địa cầu là nơi 5 loài sống chung – Ngũ Thú Tạp Cư
08. Đức Phật kể Ngài bị luân hồi trong Tam Giới, sau cùng thành Phật
09. Những lời dạy tuyệt mật để lưu lại hậu thế theo dòng Thiền tông

MỞ ĐẦU LÀ BÀI KỆ 12 CÂU CỦA ĐỨC PHẬT DẠY

Phật giới gồm có những chi?
Càn khôn Vũ trụ có chi phải tường?
Tam giới phải rõ thông đường
Người tu theo Phật rõ đường để đi.

Tánh Người phải biết là chi?
Ở trong tánh Phật có gì phải thông?
Phải rõ luân chuyển trong Trần
Giải thoát ra khỏi đường Trần là an.

Như Lai dạy rất rõ ràng
Không chịu tìm hiểu nói càng kiếm danh
Cứ mãi lường gạt đua tranh
Cứ đi, đi mãi loanh quanh luân hồi!

Mười hai câu kệ trên đây, là của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ông Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông tuyệt mật. Để cung cấp cho các vị Tổ Thiền tông làm căn bản về pháp môn Thiền tông học. Sau các đời Tổ sư Thiền tông truyền lại cho Thiền tông sư và Thiền tông gia làm bản gốc dạy pháp môn Thiền tông học này.
Đức Thế Tôn dạy tiếp 12 câu kệ: 
Sự sống vị Phật là sao?
Sự sống Tam giới là sao phải tường?
Tu Phật phải rõ thông đường
Luân hồi sinh tử không vươn làm gì.

Tu phước là để được chi?
Tạo ra công đức làm gì phải thông?
Tu sao còn dính trong Trần?
Tu sao giải thoát mười phần phải thông?

Ngồi thiền Quán, Tưởng, Cầu mong
Nhìn trong Tam giới mà không hiểu gì
Thiền tông Phật dạy để chi?
Phải biết thật rõ hết đi luân hồi!  

PHẦN MỘT: Phật giới:

– Nói không gian trùm khắp không biên giới.
– Gọi là “Bể tánh Thanh tịnh”.
– Trong Bể tánh Thanh tịnh có các phần như sau:
 

Một: Điện từ Quang trùm khắp, làm sự sống cho:
1-Tánh Phật
2-Các vị Phật.
3-Cấu tạo vỏ bọc của tánh Phật.

Hai:  Trong Phật giới có Hằng hà sa số cái Ý.
Cái Ý này tự nhiên có đầy khắp trong Phật giới.
Cái Ý này tự nó có 4 phần:
1- Lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.
2- Lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe.
3- Lúc nào cũng rung động, muốn phát ra tiếng thì có tiếng, gọi là hằng Pháp.
4-Lúc nào cũng biết, gọi là hằng Tri.

PHẦN HAI: Tam giới:
Một vùng rất nhỏ trong Càn khôn Vũ trụ phải hiểu như sau:
Một Thái dương hệ gọi là 1 Tam giới, gồm có:
– Một ngàn Thái dương hệ gọi là 1 Tiểu thiên thế giới.
– Một Tiểu thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 tỷ Tam giới, gọi là 1 Trung thiên thế giới.
Trung thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 ngàn tỷ Tam giới, gọi là Đại thiên thế giới.
Mà Như Lai nhìn thấy trong Càn khôn Vũ trụ này có Hằng hà sa số Tam thiên Đại thiên thế giới. Đồng nghĩa, đem số cát của mấy  tỷ sông Hằng ra đếm, thì số cát của mấy tỷ sông Hằng cũng không bằng số Tam thiên Đại thiên thế giới nữa, mà Tam thiên Đại thiên thế giới nó nằm trong Càn khôn Vũ trụ.
Trong 1 Tam giới có 45 hành tinh chia ra như sau:
Một: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, gọi là “Cõi Trời Vô Sắc”.
Hai/A: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương, gọi là “Cõi Trời Hữu Sắc”.
Hai/B: Trong cõi trời Hữu Sắc rực rỡ này, có 6 hành tinh rất thanh tịnh, gọi là “Lục Quốc Tịnh Độ”.
Ba: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 5 màu sắc điện từ Âm Dương thật đậm, cường lực rất mạnh, nên gọi là “Cõi Trời Dục Giới”.
Bốn: Có 6 hành tinh, cấu tạo bằng “Tứ đại”: Đất – Nước – Gió – Lửa. Nơi 5 loài sống chung, tức “Ngũ thú tạp cư”, gọi là Địa cầu.
Một Tam giới mà đã có nhiều hành tinh như vậy. Ai đó bảo: Càn khôn Vũ trụ này là do họ làm ra, là không đúng sự thật.

PHẦN BA: Giải thích cõi trời Vô Sắc:
Vì sao gọi là cõi trời Vô Sắc?
– Vì cõi trời này cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, rất thanh tịnh. Do đó, sự sống ở cõi trời này rất thanh tịnh.
Gồm có 11 hành tinh:
1- Trời Vô Lượng Nghiêm Sức.
2- Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt.
3- Trời Vô Tưởng.
4-Trời Vô Phiền.
5- Trời Vô Nhiệt.
6- Trời Thiện Kiến.
7- Trời Thiện Hiện.
8- Trời Sắc Cứu Cánh.
9- Trời Ma Hê Thủ La.
10- Trời Phi Phi Tưởng.
11- Trời Phi Phi Tưởng Xứ.
– Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Vô Sắc”.
– Người sống ở cõi trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này, vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ cũng tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
– Việc làm ở cõi Trời này có việc như sau:
Trời nam và Trời nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Trời con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Chứa trong Trung Ấm Thân này, là cái vỏ bọc tánh Phật.
Trung Ấm Thân của con người làm gì mà được vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này?
– Vì Trung Ấm Thân khi còn sống ở thế giới loài Người thích làm 3 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi thanh tịnh.
3- Ngồi thiền ép cho tâm Vật lý được thanh tịnh.
Ở thế giới loài Người, ai muốn sống nơi thanh thịnh thì thực hành ba phần nói trên. Tức tự tạo ra làn sóng nghiệp thanh tịnh. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, thì được làn sóng nghiệp do mình tự tạo ra đó, nó tự động hút đưa mình đến cõi Trời Vô Sắc này.
Một vị Trời ở cõi Trời Vô Sắc này được sanh ra như sau:
Trung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích thanh tịnh, đến với cõi Trời Vô Sắc này. Đầu tiên, phải tìm đến đôi Trời nam và nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 900 năm, 10 ngàn ngày. Sau đó, được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
Vị Trời con sống nơi cõi Trời Vô Sắc này có 4 việc làm như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Dụng công tọa thiền để thụ hưởng cái an vui kỳ diệu do mình dụng công tọa thiền mà có.
3- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Vô Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
4- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
– Tuổi thọ của loài Trời Vô Sắc này là 100 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
– Ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 4 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều để tạo “Nghiệp thiện”.
B-Cầu mong được sống nơi thanh tịnh.
C_Tọa thiền, dụng công ép cho thân mình khô kiệt.
D- Ép cho tâm Vật lý không còn suy nghĩ.

Ai thực hiện đúng 4 phần nói trên, khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến sống 1 trong 11 hành tinh Vô Sắc này.


PHẦN BỐN: Giải thích cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ:
Cõi Trời Hữu Sắc có 11 hành tinh:

1-Trời Đại Phạm.
2-Trời Thiểu Quang.
3- Trời Vô Lượng Quang.
4- Trời Quang Âm.
5- Trời Thiểu Tịnh.
6-Trời Vô Lượng Tịnh.
7-Trời Biến Tịnh.
8-Trời Phước Sanh.
9-Trời Phước Ái.
10- Trời Quãng Quả.
11-.Trời Nghiêm Sức.
Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Hữu Sắc”.
Người sống ở cõi Trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ là do cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương nên lúc nào họ cũng thích cảnh có màu sắc đẹp.
– Việc làm ở cõi Trời này có 3 việc như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Hữu Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ.
3- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
Loài Người ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Hữu Sắc này sinh sống thì ở thế giới loài Người phải là 2 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi cảnh đẹp.
Vì làm được 2 phần nói trên, nên khi còn ở nơi thế giới loài Người, họ tự tạo ra làn sóng nghiệp vui tươi. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, tánh Người được biến thành là Trung Thân, nên được làn sóng nghiệp bằng điện từ Âm Dương do mình tự tạo ra đó,  tự động hút đưa Trung Ấm Thân mình đến cõi trời Hữu Sắc này.
Một vị Trời ở cõi trời Hữu Sắc này được sanh ra như sau:
Tung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích vui tươi, đến với cõi Trời Hữu Sắc này. Đầu tiên là phải tìm đến đôi Trời nam và Trời nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 90 năm, 1 ngàn  ngày. Sau đó được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
– Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.


Nước Tịnh Độ:
– Có 6 hành tinh cấu tạo bằng 12 màu sắc của điện từ Âm Dương cũng rất rực rỡ và thanh tịnh.
Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?
– Vì nó cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ và thanh tịnh, là nơi dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để giúp người tu vượt ra ngoài sự cuốn hút của thế giới Vật lý Âm Dương.
Nước Tịnh Độ này có 6 hành tinh, gồm: 
1- Nước Tịnh Độ của Đức A Sơ Bệ Phật ở hướng Đông mặt trời.
2-Nước Tịnh Độ của Đức A Di Đà Phật ở hướng Tây mặt trời.
3- Nước Tịnh Độ của Đức Nguyệt Đăng Phật ở hướng Nam mặt trời.
4- Nước Tịnh Độ của Đức Diệm Kiên Phật ở hướng Bắc mặt trời.
5- Nước Tịnh Độ của Đức Phạm Âm Phật ở hướng Trên mặt trời.
6- Nước Tịnh Độ của Đức Sư Tử Phật ở hướng Dưới mặt trời.
– Vị cai quản nước Tịnh Độ này gọi là Đức Phật.
– Người sống ở các nước này gọi là Tiên nam hay Tiên nữ.
– Việc làm ở cõi Trời này có 4 việc như sau:
1- Tiên nam và Tiên nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Tiên con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Khi Tiên nữ thụ thai, liền đến ao hay hồ hoặc biển đẻ vào hoa sen đó 1 noãn Tiên. Thời gian sanh ra vị Tiên này là tùy theo sự làm phước và mong cầu của người này khi còn là 1 con người sống nơi thế giới loài Người, mà trong Cửu Phẩm Liên Hoa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có nói rất rõ.
2- Được đi lại tự do bất cứ đâu trong nước Tịnh Độ này.
3- Ngày nào cũng đi cúng các nơi thờ những Đức Phật quá khứ.
4- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Tịnh Độ này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rất rực rỡ.
– Tuổi thọ Tiên sống ở cõi Tịnh Độ này là 1 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, trước khi trở lại sống nơi thế giới loài Người thì phải qua Đức Phật A Di Đà dẫn ra ao hay hồ hoặc biển kiểm thiền, coi vị Tiên này có được giải thoát hay còn bị đi trong Lục đạo luân hồi nữa.
Bằng cách, Đức Phật A Di Đà bẻ 1 cành hoa sen đưa cho vị Tiên ấy xem, nếu vị Tiên ấy nhìn thấy cành hoa sen mà thấy được bằng tánh thanh tịnh Phật tánh của chính mình, thì vị vị Tiên ấy sẽ được Đức Phật A Di Đà xác nhận bằng câu: "Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”.
Rồi Đức Phật A Di Đà dạy vị Tiên này 8 phần tuyệt mật trong một Tam giới như:
1- Phật giới.
2- Số lượng hành tinh trong Tam giới.
3- Tại sao bị luân hồi.
4- Làm sao được ra ngoài vòng luân hồi.
5- Tạo ra phước đức để làm gì.
6- Tạo ra công đức để làm chi.
7- Một vị Phật được hình thành như thế nào.
8- Nhiệm vụ của một vị Phật.
Tám phần dạy nói trên, vị Tiên ấy khi đã học xong, Đức Phật A Di Đà mới đưa vị Tiên ấy trở lại thế giới loài Người, đến gần chỗ “Mạch nguồn thiền Thanh tịnh” đang phổ biến.  Nhờ vậy, khi vị này vừa nghe đến 2 tiếng “Thiền tông”, tự nhiên nhớ lại tất cả những gì mà Đức Phật A Di Đà đã dạy họ.
– Còn ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 2 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều.
B- Ngày nào cũng mong muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống. Khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến nước của Ngài.

Nhà sưu tầm Thiền học Phật giáo kiêm soạn giả Nguyễn Nhân, tức Nguyễn Công Nhân

Xem thêm: Thiền Tông

#thientong #cankhonvutru #cuocdoicuaducphat

Chân Không

Chân Không

1629908161

40 phần TUYỆT MẬT Đức Phật biệt truyền theo dòng Thiền Tông

Khi Đức Phật trao tập Huyền Ký cho Ngài Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông. Ông A Nan Đà có trình thưa hỏi Đức Phật:


- Kính bạch Đức Thế Tôn: Chúng con có các phần thắc mắc như sau, kính xin Đức Thế Tôn dạy chúng con:

Một: Lý do gì mà Tánh Phật chúng con lại vào thế giới loài Người mượn sắc thân con người?

Hai: Qui luật luân hồi nơi trái đất này như thế nào?

Ba: Kính xin Đức Thế Tôn dạy căn bản cho chúng con thoát ra ngoài qui luật luân hồi của trái đất để trở về Phật giới?

*Đức Phật dạy ông A Nan Đà và đại chúng 40 phần gọi là tuyệt mật mà Như Lai không dạy trong các kinh điển phổ thông:

Phần 1:

- Đầu tiên, Tánh Phật ở trong Phật giới, nhìn thấy những Kim Thân Phật sao quá lớn, còn những Tánh Phật tại sao quá nhỏ, nên có Tánh Phật tò mò hỏi Kim Thân Phật như sau:

- Thưa Kim Thân Phật: Tánh Phật của chúng tôi sao quá nhỏ, còn Kim Thân Phật của quí vị sao quá lớn như vậy, xin qúi vị cho chúng tôi biết?

Có Kim Thân Phật trả lời:

- Trước kia, Kim thân Phật của chúng tôi cũng nhỏ như là Tánh Phật vậy. Nếu Tánh Phật nào muốn lớn như Kim thân Phật, thì hãy vào Tam giới, đến thế giới loài Người, xin vào Dòng tộc loài Người, mượn sắc thân con người tạo công đức, khi công đức được nhiều, trở về Phật giới, số công đức này, được điện từ Quang trong Phật giới chiếu vào, số công đức này tự nhiên được định hình ra một Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh, Tánh Phật của quí vị ẩn vào trong Ngôi nhà đó, tức khắc một Kim thân Phật được sanh ra. Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh là để Kim thân Phật ở. Còn Ngôi nhà pháp thân thanh tịnh và Kim thân Phật lớn hay nhỏ, là tùy số công đức mà Tánh Phật tạo ra nơi Thế giới loài Người.

Phần 2:

 * Tánh Phật hỏi đường vào Thế giới loài Người:

 Khi Tánh Phật biết được nguyên do nói trên, nên Tánh Phật mới hỏi Kim Thân Phật:

- Chúng tôi muốn vào thế giới loài Người, mượn thân loài Người để tạo công đức, phải đi đường nào vào, xin Kim thân Phật chỉ cho chúng tôi?

* Kim thân Phật trả lời:

- Muốn vào thế giới loài Người, đầu tiên, Tánh Phật phải đến cửa Hải Triều Âm của Tam giới.

- Được cửa này hút Tánh Phật vào Trung tâm vận hành luân hồi.

- Tánh Phật lần theo Trung tâm luân hồi này, đến cửa Hải Triều Âm của Trái đất.

- Được cửa Hải Triều Âm của Trái đất hút vào.

- Tánh Phật được vào đây rồi, tìm đến Dòng tộc nào đó. Hỏi Trưởng ban Dòng tộc, xin Trưởng ban Dòng tộc cho Tánh Phật nhập vào một gia đình nào đó, và tự nguyện làm con của gia đình này, nhưng Kim thân Phật cũng nói cho Tánh Phật biết:

- Khi Tánh Phật đã vào Trung tâm vận hành của Tam giới rồi, thì không trở lại Phật giới được, mà phải đi theo ống dẫn vào trái đất, khi nào Tánh Phật mượn thân con người tạo được công đức thật nhiều rồi, mà muốn trở về Phật giới, thì phải vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới lại, trở về Phật giới bằng cửa Hải triều Dương Tam giới.

 Kim thân Phật cũng nói cho Tánh Phật biết:

 - Khi Tánh Phật mượn sắc thân con người rồi, thì Tánh Phật khó mà bỏ sắc thân con người được. Vì sao vậy? Vì Tánh Người được Tánh Phật làm sự sống, thì Tánh Người không khi nào chịu trả Tánh Phật về Phật giới.

 Tánh Phật trả lời:

- Chẳng lẽ Tánh Người có sức mạnh và khôn hơn Tánh Phật sao?

Kim thân Phật nói:


- Tánh Người không mạnh mà cũng không khôn hơn Tánh Phật, nhưng Tánh Phật khi đã mượn sắc thân con người rồi, Tánh Người không khi nào chịu từ bỏTánh Phật ra.


Tánh Phật lại nói:

- Thôi, Kim Thân Phật cứ chỉ cho Tánh Phật tôi đường vào thế giới loài Người, còn việc Tánh Phật và Tánh Người ai khôn ai dại, chúng tôi biết cách xử.
Thế là, Kim thân Phật chỉ cho Tánh Phật đường vào thế giới loài Người.

Phần 3:

Kim thân Phật chỉ Tánh Phật vào thế giới loài Người:

- Đầu tiên, Tánh Phật phải tìm đến cửa Hải Triều Âm Tam giới.

- Chui vào cửa này.

- Vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới.

- Theo ống dẫn vào trái đất.

- Đến dòng tộc.

- Xin Trưởng ban Dòng tộc cho nhập vào Dòng tộc.

- Xin làm con trong gia đình.

Thế là, Tánh Phật thực hiện đúng lời chỉ dẫn của Kim thân Phật, vào được trái đất và gặp được Trưởng ban Dòng tộc.

Phần 4:

* Tánh Phật xin làm con trong Gia đình:

- Khi Tánh Phật đến gặp Trưởng ban Dòng tộc, được Trưởng ban Dòng tộc đồng ý. Nhưng Trưởng ban Dòng tộc có nói với Tánh Phật 05 điều như sau, nếu Tánh Phật đồng ý, thì mới được vào làm con trong gia đình:

*Điều 1: Không được mượn thân con người tạo nghiệp phước Dương, để vãng sanh đến các cõi Trời hay nước Tinh Độ sinh sống hưởng phước an vui ở đây.

*Điều 2: Không được mượn thân người tạo nghiệp phước Âm, để làm Thần hay làm người giàu sang nơi trái đất này hoài.

*Điều 3: Không được mượn thân người, bày ra đủ chuyện để lường gạt người khác mà bị quả báo!

*Điều 4: Không được mượn thân người ở mãi trong dòng tộc mà không chịu tạo ra công đức để trở về Phật giới.

*Điều 5: Tánh Phật phải liên lạc về Phật giới, nhờ 1 Kim Thân Phật phân thân vào Dòng tộc chúng tôi chứng kiến lời cam kết của Tánh Phật, thì Tánh Phật mới được nhập vào Dòng tộc, vào gia đình mượn thân con người tạo công đức.

Phần 5:

Trưởng Dòng tộc nói xong, Tánh Phật liền liên lạc về Phật giới, nhờ 1 Kim Thân Phật, ứng thân vào thế giới loài Người, đến Dòng tộc chứng kiến lời cam kết của Tánh Phật.

Tánh Phật liền liên lạc về Phật giới, tức khắc có 1 Kim Thân Phật phân thân đến Dòng tộc và nói với Trưởng ban Dòng tộc như sau:

 - Tôi là 1 Kim Thân Phật, từ Phật giới phân thân đến đây, xin chứng kiến lời hứa của Tánh Phật này. Nếu Tánh Phật này, cứ ở mãi trong dòng tộc, hay ham mê sống trong nơi trái đất hay Tam giới này, mà không chịu tạo công đức để trở về Phật giới, thì Kim Thân Phật tôi sẽ phân thân đến nhắc nhở Tánh Phật này.

 Trưởng ban Dòng tộc được 1 Kim Thân Phật phân thân đến cam kết như vậy, nên Trưởng ban Dòng tộc cho Tánh Phật nhập vào Dòng tộc, rồi phân bổ vào gia đình để mượn thân con người tạo công đức.

Phần 6:

* Tánh Phật được vào gia đình mượn thân người để tạo công đức:

Tánh Phật được phân bổ vào gia đình, nên lúc nào cũng canh chừng khi Cha Mẹ giao hợp với nhau, mà Tinh Cha Noãn Mẹ vừa được điện từ Âm Dương cuốn hút, tạo thành lực hút Âm Dương, thì Tánh Phật phải chui ngay vào Tinh Cha Noãn Mẹ và ngủ yên trong đó.
Khi Tánh Phật đã ngủ yên trong tử cung của Mẹ đúng 9 tháng 10 ngày, Tánh Phật mới được Mẹ sanh ra thành 1 đứa trẻ, dần dần lớn lên trở thành con người hoàn chỉnh và tạo công đức.

Phần 7:

* Tánh Phật đâu biết rằng: Trong Tử cung của ngươi Mẹ mình là nơi có 3 công dụng:

Một: Nơi làm cho Tánh Phật quên hết những gì mà Tánh Phật: Thấy - Nghe - Nói và Biết trước kia.

Hai: Nơi tạo ra sắc thân của một con người.

Ba: Khi sắc thân con người hình thành, cũng là Tánh Người hình hành, để Tánh Phật mượn Tánh Người và Thân Người hoạt động.

Phần 8:
* Tánh Phật mượn thân người để tạo công đức, nhưng không nhớ!
Vì sao Tánh Phật không nhớ tạo công đức?
- Vì có 3 nguyên do:

1/- Vì Tánh Phật đã ngủ trong Tử cung của Mẹ quá lâu, nên quên hết những gỉ mà Tánh Phật đã Thấy và Biết trước kia!

2/- Tánh Phật đã vào sống trong qui luật luân hồi của trái đất, thì phải đi theo qui luật này, không cách nào làm khác được!

3/- Trong Tánh Người có đến 16 thứ; mà 3 thứ Tánh mạnh nhất là, Tưởng - Tham và Sợ. Tánh Phật bị 3 thứ này và 13 thứ nữa che khuất, nên Tánh Phật không còn Thấy - Nghe - Nói - Biết như trước kia nữa. Nói danh từ trong đạo của Như Lai gọi là: “Tánh Phật bị Vô Minh che khuất”!

Vì vậy, sự ham muốn của Tánh Phật ban đầu là tạo công đức, Tánh Phật không còn nhớ nữa, thì làm sao mà tạo công đức được.

- Hơn nữa, Tánh Phật bị Tánh Người bao phủ lại, thì làm sao Tánh Phật: Thấy - Nghe - Nói - Biết của Tánh Phật như trước kia, mà phải sống theo sự ham muốn của Tánh Người.

Phần 9:

* Tánh Người là thứ Tánh có 16 thứ:

- Thọ - Tưởng - Hành - Thức - Tài - Sắc - Danh - Thực - Thùy - Tham - Sân - Si - Mạn - Nghi - Ác - Kiến!

Vì vậy, Tánh Phật phải làm theo Tánh Người, chớ không cách nào khác. Nếu Tánh Phật chỉ có 1 niệm nhỏ muốn tạo công đức, thì Tánh Người sẽ nạt ngay!

Vì sao Tánh Người nạt Tánh Phật?

- Vì Tánh Người được Tánh Phật làm sự sống, thì Tánh Người không khi nào cho Tánh Phật tạo công đức. Nếu Tánh Phật tạo được công đức, thì Tánh Phật sẽ trở về Phật giới, thì Tánh Người phải trở về với hư không, nênTánh Người phải ôm chặt Tánh Phật hoài là vậy.

Phần 10:

* Trái đất là 6 loài sống chung, gồm:
1/- Loài Thần.
2/- Loài Người.
3/- Loài Ngạ Quỷ.
4/- Loài Súc Sanh.
5/- Loài Địa Ngục.
6/- Loài Thực Vật.

Phần 11:

* Nhiệm vụ 6 loài sống trên Trái đất này:

- Loài Thần có 3 nhiệm vụ chánh:

1/- Thần chủ Thế giới:
- Chuyên mượn Sắc thân con người nào thích linh thiêng huyền bí để lập ra Đạo.
- Để con người đem cái Tưởng - Tham và Sợ vào an trú, để con người an lòng là đã có nơi ở vững chắc không sợ sau khi chết!

2/- Thần chủ Quốc gia:
- Chuyên làm nhiệm vụ, tiếp truyền Đạo do Thần chủ Thế giới lập nên.

3/- Thần chủ Vùng Quốc gia:
- Chuyên ngự ở các Đình, chứng kiến lời thề của con người thề với nhau.

4/- Thần Bình thường ở mỗi Quốc gia:
Mỗi vị Thần Bình thường phụ trách một công việc, như:

* Thần Kim Cang:
- Chuyên giúp người nào muốn Giải thoát, do vị Phật ở trong Phật giới nhờ.

* Thần Phước Thiện:
- Chuyên giúp người nào bị oan trái, khiến người này đến cơ quan Pháp luật kêu oan, do vị Bồ Tát ở nước Tịnh Độ, sử dụng Thiên Nhãn thấy và nhờ.

* V.v…

Phần 12:

* Tu hành:
Tu Tiểu thừa: Cũng gọi là Nam truyền, hay Nam tông.

* Cách tu: Chuyên dụng công ngồi thiền quán 37 pháp:
1/- Quán Tưởng.
2/- Quán Nghi.
3/- Quán Diệt.
4/- Quán Sát.
5/- Quán Dẹp.
6/- Quán Vô.
7/- Quán Thoại.
8/- Quán Bất.
V.v…

* Mục đích của người tu:
- Thích làm Thiền sư, dạy người khác dụng công ngồi thiền được lâu.

Phần 13:

Tu Trung thừa: Gọi là Lý luận Bát Nhã, cũng gọi là Triết lý Phật Thích Ca.

* Cách tu: Chuyên học lý luận cho thật hay để nói cho người khác nghe, họ khen và cho tiền.

* Mục đích của người tu: Thích làm Giảng sư Phật học, để dạy người khác, kiếm tiền.

Phần 14:

Tu Đại thừa: Nghi, tìm hay kiếm trong vật chất.

* Cách tu: Chuyên suy tư và nghĩ tưởng hữu dụng của vật chất. Những người này gọi là, “Kỹ sư Phật học”.

* Mục đích của người tu: Cải thiện đời sống của con người, cũng để kiếm tiền.

Phần 15:

Tu Tịnh Độ tông: Định tâm bằng câu niệm Phật.

* Cách tu: Chuyên niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, và làm nghiệp phước thiện thật nhiều.

* Mục đích của người tu: Mong sau khi chết được vãng sanh đến nước Cực Lạc sinh sống và hưởng sung sướng trong cảnh thanh tịnh.

Phần 16A:

Tu Mật chú tông: Định tâm bằng câu thần chú, và cúng dường thật nhiều, để tạo nghiệp phước đức Âm.

* Cách tu: Chuyên niệm câu thần chú lấy trong các kinh. Muốn làm nghề gì, thì niệm câu thần chú kinh đó.

Ví dụ:
- Muốn làm thầy thuốc, thì niệm chú Dược sư.
- Muốn trừ Tà, thì nệm chú Thủ Lăng Nghiêm.
- Muốn cho thân mình được an vui, thì niệm chú Đại bi.
- V.v…

* Mục đích của người tu: Mong sau khi chết được làm Thần, để sử dụng thần thông.

Phần 16B:

Tu Thiền tông: Kiến tánh thành Phật.

* Cách tu: Hằng tri việc làm hằng ngày của mình, không chạy theo cảnh và biết tạo ra công đức.

* Mục đích của người tu: Để trở về Phật giới sau khi chết.

* Người tu Thiền tông phải hiểu 4 phần:
1/- Thân người mình là gì?
2/- Tánh người mình là sao?
3/- Mình tu sao được giải thoát?
4/- Mình tu sao còn bị luân hồi?

* Và phải tìm hiểu thêm 4 phần nữa:
1/- Sự sống và qui luật của trái đất này như thế nào?
2/- Tam giới ở đâu?
3/- Phật giới ở nơi nào?
4/- Càn khôn vũ trụ ra sao?

* Đời sống và làm việc của người tu Thiền tông phải biết 4 phần:
1/- Sống nghề gì, cứ làm nghề đó, làm bằng Tánh Người, phải tuân thủ luật nhân quả của trái đất.
2/- Không sử dụng tánh Phật làm việc ở trái đất này.
3/- Khi nào thuận duyên mới tạo công đức, không quá nhiệt tình.
4/- Không tranh luận với ai.

Phần 17:

Càn khôn vũ trụ:

* Không gian bao la trùm khắp không biên giới trong đó có chứa 2 phần:

1/- Phật giới, là nơi tánh Phật và chư Phật sống.

2/- Tam giới, là nơi loài Trời, loài Tiên, loài Người và môn loài sống.

Phần 18:

 Loài Người, có 6 nhiệm vụ:

- Một: Tạo ra nghiệp phước đức Dương, để vãng sanh đến các cõi Trời hay nước Tịnh Độ hưởng phước đức Dương.

- Hai: Tạo ra nghiệp phước đức Âm, để làm Thần hay người giàu sang ở trái đất này.

- Ba: Tạo ra nghiệp Ác đức, để làm các loài Súc Sanh, làm loài Địa Ngục, hoặc làm Thực vật.

- Bốn: Không tạo ra các nghiệp phước Dương, hay phước Âm, mà muốn ở mãi trong dòng tộc.

- Năm: Tạo ra công đức, để trở về Phật giới.

- Sáu: Tạo ra Trung ấm thân, để chuyên chở 5 phần nói trên đi hưởng nghiệp phước đức Dương ở các cõi Trời hay nước Tịnh Độ. Nghiệp phước đức Âm. Nghiệp ở trong dòng tộc. Trả nghiệp xấu. Hoặc chuyên chở vỏ bọc tánh Phật có chứa công đức trở về Phật giới.

Phần 19:

 Loài Ngạ Quỷ, có 1 nhiệm vụ:

* Giành giựt của người khác.

Phần 20:

Loài Súc sanh, có 2 nhiệm vụ:

- Một là, trả nhân quả khi còn làm con người mà ham sát hại sinh vật.

- Hai là, làm thức ăn cho loài Người và các loài khác.

Phần 21:

Loài Địa ngục, có 1 nhiệm vụ:

* Trả nhân quả khi còn mang thân người mà gây trọng tội.

Phần 22:

Loài Thực vật, có 2 nhiệm vụ:

- Một: Trả nhân quả khi còn làm con người mà đi lường gạt người khác về giải thoát.

- Hai: Làm thức ăn cho loài Người và các loài khác.

Phần 23:

 Cấu tạo của trái đất:

- Trái đất cấu tạo bằng 5 thứ: Đất - Nước - Không khí - Lửa - Điện từ Âm Dương.

Phần 24:

 Nhiệm vụ của đất:

 - Làm mặt bằng sống của loài Người, muôn loài động vật và muôn loài Thực vật.

- Luân chuyển để tạo ra sức hút vật lý sanh ra nhân quả luân hồi.

- Nơi chứa 6 loài có sự sống: Thần, Người, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, và Thực vật.

Phần 25:

 Tổ chức 1 Tam giới:

* Tam là ba. Giới là giới hạn, hay ranh giới. Nó ở đâu?

- Nó là 1 cụm thật nhỏ trong Càn khôn vũ trụ. Nếu ví như có hình thể trong Càn khôn vũ trụ, thì Tam giới còn nhỏ hơn một hạt cát trong trái đất này nữa.

- Trong 1 tam giới có 1 mặt trời, có 45 hành tinh có sự sống, có Hằng hà sa số hành tinh cấu tạo bằng: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ - Điện từ Âm + Điện từ Dương.

- Có 4 vòng Hoàng Đạo và 1 vòng bảo vệ Tam giới, chia ra như sau:

 1/- Một mặt trời ở trung tâm: Liên tục cháy phát ra hơi nóng và ánh sáng để sưởi ấm và làm ánh sáng cho 45 hành tinh bao xung quanh 4 vòng Hoàng đạo.

 2/- Vòng Hoàng đạo 1: Gồm có 6 hành tinh cấu tạo bằng tứ đại và điện từ Âm + Dương không màu sắc, là nơi loài người, 4 loài khác, và loài thực vật sống chung.

 3/- Vòng Hoàng đạo 2: Gồm có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 5 màu sắc rất đậm, là nơi các loài Trời sống.

 4/- Vòng Hoàng đạo 3: Gồm có 17 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 12 màu sắc rực rỡ, chia ra làm 2 nơi:

 - Nơi 1: Có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 12 màu sắc rực rỡ và lung linh, là nơi các loài Trời sinh sống.

 - Nơi 2: Có 6 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 12 màu sắc rực rỡ, nhưng rất thanh tịnh, là nơi các loài Tiên sinh sống.

 5/- Vòng Hoàng đạo 4: Gồm có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương không màu sắc, là nơi các loài Trời sinh sống hưởng nghiệp phước đức thanh tịnh.

 6/- Vòng Hoàng đạo 5: Không có hành tinh, mà chỉ có 2 vòng điện từ Âm + Dương, chia ra làm 3 phần công dụng:

 - Công dụng 1 là điện từ Âm: Chuyên hút cứng các hành tinh trong Tam giới, để nén cứng lại, không cho thoát ra ngoài Tam giới.

 - Công dụng 2 là điện từ Dương: Chuyên đẩy các Tam giới xung quanh, không cho các Tam giới va chạm với nhau.

 - Công dụng 3 là làm sức nén: Để tạo lực nén cứng trong 1 Tam giới, để các hành tinh có sự sống, cũng như hành tinh làm vật tư, xoay vòng được và bay lơ lửng trong không gian của một Tam giới.

Phần 26:

Tổ chức Phật giới:

- Trong Phật giới gồm có 3 phần:

- Một là, không gian bao la trùm khắp theo Càn khôn vũ trụ, vũ trụ có đến đâu, thì Phật giới có đến đó. Trong Phật giới cấu tạo bằng điện từ Quang; điện từ Quang này là làm sự sống cho tánh Phật, chư Phật, Trời, Tiên, Thần, Người và muôn loài trong các Tam giới.

- Hai là, nơi sống Hằng hà sa số của tánh Phật.

- Ba là, nơi sống Hằng hà sa số của chư Phật.

Phần 27:

Giác ngộ là gì?

* Là hiểu biết căn bản có 7 phần:

- Một: Biết Càn khôn vũ trụ là gì.

- Hai: Biết Phật giới ở đâu.

- Ba: Biết công dụng của Tam giới ra sao?

- Bốn: Biết được qui luật luân hồi của trái đất.

- Năm: Biết được tánh Phật, tánh con người và tánh muôn loài.

- Sáu: Biết được công thức thoát ra ngoài qui luật luân hồi của trái đất.

- Bảy: Biết được người nào giúp đỡ hay lường gạt mình.

Phần 28:

 Luân hồi?

 1/- Luân là quay chuyển.

 2/- Hồi là trở lại chỗ cũ.

 A- Như tánh Phật: Đầu tiên ở trong Phật giới, ham muốn vào trái đất, mượn thân con người để tạo công đức trở về Phật giới định hình ra 1 Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và 1 Kim thân Phật, nhưng vì vào thế giới loài Người, ham mê đủ chuyện nên luân chuyển đi khắp nơi trong trái đất và Tam giới, sau cùng rồi cũng Hồi về Phật giới.

 B- Như trái đất: Đầu tiên ở điểm A, bị sức hút của điện từ Âm Dương, hút luân chuyển đi một vòng 365 ngày, sau cùng rồi cũng Hồi về điểm A.

 C- Như con người: Đầu tiên là con người, ham muốn đủ chuyện trên đời, nên luân chuyển đi các nơi trong Tam giới, sau cùng rồi cũng Hồi trở lại làm thân con người.

Phần 29:

 Tu sao được giải thoát?

 Người muốn giải thoát, không tu gì cả, mà chỉ cần biết 3 phần như sau:

 1/- Nơi trái đất này lúc nào cũng luân chuyển, nếu ai dụng công tu hành là dính theo qui luật luân chuyển của trái đất, gọi là luân hồi.

 2/- Cuộc sống hằng ngày như thế nào, cứ như thế mà làm, tức sống thuận theo qui luật nhân quả luân hồi của trái đất.

 3/- Khi thuận tiện mới tạo ra công đức một cách bình thường, nhưng phải có chọn lọc.

 4/- Khi hết duyên sống nơi thế giới này, nếu muốn về Phật giới, thì được tự tại trở về.



Phần 30:

 Ở trái đất này cúng cho ai ăn?

 * Như Lai dạy cho các ông biết: Nơi trái đất này có 5 loài sống chung, gồm:

 1/- Loài Thần.

 2/- Loài Người.

 3/- Loài Ngạ quỷ.

 4/- Loài Súc sanh.

 5/- Loài Địa ngục.

 Do đó, người tổ chức cúng thì tuần tự 5 loài ăn như sau:

 1/- Loài Thần ăn, khi thức ăn còn thật nóng.

 2/- Loài Ngạ quỷ ăn, khi thức ăn đã nguội bớt.

 3/- Người tổ chức cúng ăn, khi thức ăn đã nguội ngắt.

 4/- Loài Súc sanh ăn, khi thức ăn con người ăn còn thừa đổ đi.

 5/- Loài Địa ngục ăn, khi loài Người và Súc sanh thải ra.

Phần 31:

 Ở trái đất này cúng nơi nào là phải?

* Cúng cho Thần ăn ở các nơi như sau:

1/- Cúng trong chùa nào có thỉnh Thần nhập tượng, để chùa có linh thiêng, phải cúng để trả lễ Thần.

2/- Đình, là nơi Thần ngự, để chứng kiến lời thề của con người, phải cúng để trả lễ Thần.

Phần 32:

 * Cúng cho Cô Hồn ăn ở các nơi như sau:

- Cúng ở nơi Miếu hay Miểu, để Cô Hồn ăn.

- Vì các nơi này, người có lòng thương Cô Hồn, nên họ lập ra để Cô Hồn ở. Vì vậy, người lập ra Miểu này, phải cúng để cho Cô Hồn ăn, mới gọi là thương Cô Hồn trọn vẹn.

Phần 33:

 Trung ấm thân là gì, có nhiệm vụ ra sao?

* Trung ấm thân là phương tiện chuyên chở tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương, khối nghiệp phước đức Âm, hoặc khối công đức mà tánh Phật sử dụng thân Người tạo ra.

*Trung ấm thân này có tất cả là 10 loại:

1/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người có tạo ra công đức ham muốn trở về Phật giới, để có 1 Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và 1 Kim thân Phật.

2/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến cõi trời Vô Sắc hưởng nghiệp phước đức Dương, nhưng rất thanh tịnh.

3/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến cõi trời Hữu Sắc, hưởng nghiệp phước đức Dương, nhưng rất vui tươi.

4/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến nước Cực Lạc, hưởng nghiệp phước đức Dương vui tươi, nhưng trong cảnh thanh tịnh.

5/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến cõi trời Dục Giới hưởng nghiệp phước đức Dương, nhưng thật mạnh.

6/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn có thần thông để làm loài Thần, sử dụng thần thông cho loài Người kính nể.

7/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn ở mãi trong dòng tộc.

8/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham tạo nghiệp sát, để vào làm loài Súc sanh.

9/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham gây trọng tội, để vào các tầng Địa ngục sống.

10/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người đóng vai trò Thầy này, Giáo sư nọ, không biết Giác ngộ là giác gì, Giải thoát là sao, đi lường gạt người khác để kiếm Danh và Lợi, mà bị phạm vào Nhân quả, làm loài Thực vật.

Phần 34:

 Tại sao tu Thiền tông không được dụng công?

* Là có nguyên do như sau:

1/- Ở thế giới luân chuyển do điện từ Âm Dương cuốn hút và kéo đi nên sanh ra Nhân quả.

2/- Vì nguyên lý này, mà người tu Thiền tông không dụng công, nếu dụng công là tự tạo nghiệp. Tạo nghiệp, thì phải bị nghiệp dẫn đi luân hồi!

Phần 35:

 Phật ở đâu và làm sao giúp người giải thoát?

* Phật thì phải ở Phật giới, không đến thế giới này được.

- Chỉ sử dụng Phật nhãn để nhìn thấy người nào muốn trở về Phật giới, thì vị Phật nhờ vị Thần Kim Cang khiến người này đến nơi phổ biến pháp môn Thiền tông, học công thức để trở về Phật giới.

Phần 36:

Bồ Tát ở đâu trong Tam giới này và làm sao cứu khổ con người?

* Bồ Tát ở nước Tịnh Độ, sử dụng Thiên nhãn quan sát ở cõi Nam Diêm Phù Đề này:

- Thấy người nào bị oan trái mà muốn kêu oan, thì Bồ Tát nhờ vị Thần Phước thiện, khiến người này đến cơ quan pháp luật nước sở tại kêu oan.

Phần 37:

 A La Hán ở đâu trong Tam giới này và làm gì?

* A La Hán, là người thích tu đạt được tứ quả Thinh văn, nên dính cứng vào quả vị này.

Quả vị này từ đâu mà có?

- Là do các vị Thần tạo ra ảo ảnh quả này, theo sự ham muốn của người dụng công tu tứ quả Thinh văn.

- Tứ quả Thinh văn này, là cái ảo ảnh của Thần tạo ra, nên không thật.

- Mà người dụng công tu đạt Tứ quả Thinh văn họ lại rất thích, nên họ dính cứng vào đây, nên không giải thoát được.


Như Lai dạy cho các ông biết:

- Quả vị Thanh tịnh mà các vị A La Hán trụ vào đó, đó là Niết bàn Hóa thành, tức là cái Niết bàn tạo ra bằng cái bóng ảo của điện từ Âm Dương, do các vị Thần tạo ra, do sự ham muốn của những vị A La Hán ham muốn.
Như Lai cũng nói cho các ông rõ:

- Khi người dụng công tu hành cho thân được thanh tịnh.

- Cho tâm duyên hợp vật lý thấy, biết được quá khứ vị lại.

- Nếu người tu không dụng công nữa, thì vị Thần không tạo được cái bóng ảo, tức khắc Niết bàn tự nhiên biến mất.

Như Lai dạy cho các ông biết:

1/- Không có công đức, nên không về Phật giới được.

2/- Không có phước đức, nên không đến các cõi Trời hay nước Tịnh Độ hưởng phước đức Dương được.

3/- Người tu chứng được quả A La Hán, không ở trong Dòng tộc được. Vì sao vậy? Vì trong dòng tộc của loài Người, không chứa người thần thông.

4/- Vì vậy, người tu hành chứng quả A La Hán, khi hết duyên sống làm người, phải xin vào ở nhờ nơi thế giới loài Thần.

Phần 38:

 Tánh Phật là gì?

* Tánh là cái vỏ bọc cấu tạo bằng điện từ Quang.

1/- Trong tánh có cái Ý.

2/- Trong Ý có 4 thứ: Thấy, Nghe, Nói và Biết.

3/- Phật là trùm khắp theo Càn khôn vũ trụ.

4/- Nên gọi là tánh Phật.

Phần 39:

 Hình thành tánh người ra sao và tan rã tánh người như thế nào?

* Hình thành 1 tánh người có 8 yếu tố:

1/- Ham muốn của Tánh Phật mượn thân con người để tạo công đức.

2/- Tánh Phật.

3/- Tinh Cha Noãn Mẹ.

4/- Điện từ Âm Dương cuốn hút.

5/- Tử cung của Mẹ.

6/- Ngủ trong tử cung của Mẹ.

7/- Thời gian 9 tháng 10 ngày.

8/- Mẹ đẻ ra thân người, Tánh Người được hình thành.

* Tánh người được tan rã ra chỉ có 4 yếu tố:

1/- Tánh Phật phải ham muốn trở về Phật giới.

2/- Tánh Phật phải nhớ lại các tánh: Thấy - Nghe - Nói - Biết Tánh Phật của chính mình, gọi chung là Kiến Tánh.

3/- Nhờ Kiến Tánh này mà Tánh Phật mới điều khiển được Tánh Người tạo công đức.

4/- Công đức được đầy đủ, Tánh Phật điều khiển vỏ bọc Tánh Người biến thành là Trung Ấm Thân siêu nhanh và nhẹ. Làm phương tiện chuyên chở Tánh Phật và khối công đức vượt cửa Hải Triều Dương của trái đất, vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới. Khi vào được Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới rồi. Trung Ấm thân này vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới, không còn bị sức hút vật lý điện từ Âm Dương nữa, nên Trung Ấm thân phải tan rã ra trở về hòa chung với điện từ Âm Dương. Tánh Người liền bị mất.

* Tánh Phật và khối công đức được tự tại vượt cửa Hải Triều Dương để trở về Phật giới.

Phần 40:

 Trung ấm thân đưa tánh Phật luân hồi như thế nào và trở về Phật giới ra sao?

* Trung ấm thân là phương tiện chuyên chở để đưa tánh Phật mượn thân tứ đại của con người tạo nghiệp hoặc tạo công đức để đưa đi luân hồi hoặc trở về Phật giới:

Trung ấm thân có tất cả là 10 loại:

1/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối công đức về Phật giới:
* Trung ấm thân này có màu vàng sáng ánh, di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 5 lần tốc độ ánh sáng.

2/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến cõi trời Vô sắc, để hưởng nghiệp phước đức thanh tịnh:
* Trung ấm thân này có màu trong như pha lê. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 3 lần tốc độ ánh sáng.

3/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến cõi trời Hữu sắc, để hưởng nghiệp phước vui tươi rực rỡ và lung linh:
* Trung ấm thân này có 12 màu sắc rực rỡ. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 2 lần tốc độ ánh sáng.

4/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến nước Tịnh Độ, để hưởng nghiệp phước đức vui, nhưng trong không gian thanh tịnh:
* Trung ấm thân này cũng có 12 màu sắc rất đẹp. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ cũng gấp 2 lần tốc độ ánh sáng.

5/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến cõi trời Dục giới, để hưởng nghiệp phước đức có cảm giác rất mạnh:
* Trung ấm thân này chỉ có 5 màu sắc, không đẹp lắm. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 1 lần tốc độ ánh sáng.

6/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Âm, vào cõi Thần, để làm nhiệm vụ của vị Thần. Loài Thần có nhiều loại và nhiều nhiệm vụ, như:


- Một: Cao nhất là Thần chủ Thế giới:
* Vị Thần này có nhiệm vụ lập ra đạo lớn.
- Để cho loài người sống nơi trái đất này, đưa cái Tưởng, Tham và Sợ của Tánh Người vào an trú và tu hành, để họ yên lòng sau khi chết.

- Hai: Cao thứ hai là Thần chủ Quốc gia:
* Vị Thần này có nhiệm vụ là tiếp đạo lớn do Thần chủ Thế giới lập ra, để người trong quốc gia của họ, ai thích tu, có đạo tu, để người tu này yên lòng sau khi chết.

- Ba: Cao thứ ba là Thần chủ Vùng của quốc gia.
* Vị Thần này có nhiệm vụ là làm ra hiện tượng lạ, để nhân dân trong vùng lập ra Đình.
* Để nhân dân trong vùng quốc gia đó, họ tin là có Thần linh, lập ra Đình, để nhân dân trong vùng đó, đến lễ lạy cầu xin và thề thốt với nhau một điều gì đó.

- Bốn: Thứ tư là Thần bình thường.
* Mỗi vị Thần bình thường này phụ trách một công việc, như sau:

* Thần Kim Cang:
- Thì giúp người nào muốn tu Giải thoát.
- Được vị Phật bên Phật giới, sử dụng Phật nhãn thấy, biết được, có yêu cầu, thì vị Thần Kim Cang này mới giúp bằng cách là, khiến người này đến nơi phổ biến pháp môn Giải thoát học công thức.

* Thần Phước thiện:
- Giúp đỡ người nào ở trái đất này bị oan trái, mà muốn kêu oan, với điều kiện là.
- Vị Bồ Tát ở nước Tịnh Độ, sử dụng Thiên nhãn thấy được nếu có yêu cầu thì vị Thần Phước thiện này mới giúp bằng cách là, hướng dẫn người này hay gia đình họ, đến cơ quan phụ trách pháp luật của nước sở tại kêu oan.

* Nói tóm lại:
- Mỗi vị Thần bình thường, phụ trách một công việc.

7/- Trung ấm thân, đưa tánh Phật mượn tánh người, mà không thích đi hưởng phước hay làm ác, ở mãi trong dòng tộc:
- Trung ấm thân này chỉ có 1 màu trắng đậm hay lợt.

8/- Trung ấm thân, đưa tánh Phật mượn thân người, để sát hại loài Súc sanh. Sát hại loài nào, thì trả nhân quả loài đó.
- Trung ấm thân này, có màu sắc giống như loài nào mà tánh Phật mượn thân người sát hại loài vật đó.

9/- Trung ấm thân, đưa tánh Phật mượn thân người, gây trọng tội, đưa vào 1 trong 18 tầng Địa ngục mà tánh Phật mượn thân con người gây ra:
- Trung ấm thân này có màu đen, từ đen nhạt đến thật đen.

10/- Trung ấm thân đưa tánh Phật, mượn thân người, đóng vai trò là vị nào đó, lường gạt người ngu khờ, lấy tiền của họ. Tùy theo lường gạt lấy tiền của họ ít hay nhiều mà làm các loài thực vật khác nhau.

* Lường gạt bằng cách nào?
- Bằng cách là.
* Mình không biết Giác ngộ là gì:
- Mà nói mình biết, dụ người ham muốn Giác ngộ đến nghe, mà họ không chịu suy nghĩ lời nói của mình coi có đúng hay sai mà tin đại, họ cúng tiền cho mình, tức mình là kẻ lường gạt.

* Mình không biết Giải thoát là gì:
- Mà nói mình biết, dụ người ham muốn Giải thoát đến nghe, mà họ không chịu suy nghĩ lời nói của mình coi có đúng hay sai mà tin đại, họ cúng tiền cho mình, tức mình cũng là kẻ đại lường gạt.
Trung ấm thân này có rất nhiều màu, tùy theo loài thực vật nào mà người lường gạt này nhận quả báo.
Trên đây là qui luật luân hồi của trái đất, chúng tôi là những người có được tập Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông, mà Thiền sư ni Đức Thảo đã trao lại cho chúng tôi.

Chúng tôi có lời khuyên như sau:

- Tập Huyên Ký này đã trải qua 2.562 năm rồi, có rất nhiều Nhà dịch lại không biết có đúng bản gốc hay không. Vì vậy, độc giả nào đọc, hãy suy xét cho thật kỹ, đừng tin liền, thấy đúng mới tin, còn không đúng thì xin đừng tin.

Sau cùng, Như Lai dạy về người khôn và dại:

*Người khôn:
- Nghe người khác nói gì, biết suy xét cho thật kỹ, đúng thì mới tin: Đó là người khôn.

* Người dại:
- Nghe người khác nói cái gì cũng tin, không suy nghĩ: Đó là người dại!
- Người đã dại, mà còn rủ thêm nhiều người khác cùng dại như mình nữa, người này là người ngốc!
- Mình đã Ngốc rồi, mà còn cố chấp nữa, mình là người đại ngốc và cuồng tín vậy!

Đạo Phật Khoa Học Thiền Tông, giúp cho nhân loại Giác Ngộ và Giải Thoát để trở về Phật Giới, thoát khỏi Sinh tử Luân hồi.
  Pháp môn Thiền Tông này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã bí mật truyền riêng ngoài kinh điển vật lý thông thường và nhờ 36 vị Tổ Sư Thiền Tông Ấn Độ - Trung Hoa - Việt Nam truyền đi.
  Người nhận được và hiểu được pháp môn này thì thật là Đại Phúc - Đại Duyên, lợi ích không thể nghĩ bàn !
* Qúy vị quan tâm thêm thì tham khảo trang Youtube của Chùa Thiền Tông Tân Diệu
- https://www.youtube.com/channel/UCQ_cpfgtrJ7y7ndGu0BzHiw 
- Website : https://www.thientong.com 
- Email: [email protected]
- Địa chỉ: 273 ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Việt Nam

Nghe toàn bộ sách Thiền Tông
https://www.youtube.com/watch?v=zNIdnGXs3uk&list=PLOtXQ1m0FkHDSk5nM15Oz5f8qSUBwEXGX 

#thientong #giacngo #giaithoat #giaidapthientong #chankhong