Chân Không

Chân Không

1629973687

Đức Phật dạy 16 thứ Tánh Người và Phương Pháp tu Thanh Tịnh Thiền

Người muốn tu giải thoát thì phải hiểu thật rõ 16 thứ tánh người, từ chỗ hiểu thật rõ đó, mới hiểu tu thế nào được giải thoát, tu thế nào còn bị luân hồi.

Căn bản 16 thứ tánh người như sau:

  1. Một là thọ: bộ phận thọ này nhận: khổ, vui, buồn, thương, giận, ghét…
  2. Hai là tưởng: bộ phận tưởng này tưởng tượng ra đủ thứ trên đời, chính cái tưởng này con người tưởng tượng ra để lừa gạt người ngu dại, còn người ngu dại bị sai lầm.
  3. Ba là hành: bộ phận hành này có 2 phần:
    -Hành mà thanh tịnh là hành của điện từ quang hành có 3 phần:
    Dẫn 4 phần trong phật tánh đi xa hoặc thu lại gần.
    -Dẫn 1 phần rất nhỏ của kim thân 1 vị phật, phân thân, hóa thân, hay ứng thân đến tam giới nào đó trong vũ trụ này, nơi có loài người sinh sống mà người đó muốn giải thoát, thì vị phật trong bể tánh mới giúp, còn người nào không muốn giải thoát vị phật không giúp, vì sao vậy?
    -Vì người này thích luân hồi, thì vị phật trong phật giới làm sao giúp được.
    -Giống như ở thế giới này, bọn trẻ thích lô đùa, có ai đó bảo nó nghỉ, nó sẽ chửi lại ngay.
    -Để chứng minh phần này khi đức phật thích ca Mâu Ni bảo đại chúng và ông xá Lợi Phất đừng dụng công tu nghi, tìm nữa. Đức Phật bị ông Xá Lợi Phất và những người có mặt chửi đức phật liền.
  4. Bốn là thức: gọi là biết, nhưng biết trong thanh tịnh là phật tánh biết, còn biết mà chồng thêm cái ham muốn nữa, tức dính mắc là biết của tánh người.
  5. Năm là tài: vì có thân tứ đại lên phải tìm đủ mọi cách kiếm cho nhiều tiền của để cung phụng cho thân tứ đại này, nên sanh ra tham tài.
  6. 6-Sáu là sắc: Cũng vì muốn cho thân tứ đại này thụ hưởng sắc đẹp của thân và vật chất nên tìm kiếm sanh ra ham sắc.
  7. Bảy là danh: cũng vì muốn cho thân tứ đại này và vọng tánh của mình được hơn hẳn những người chung quanh, nên phải làm sao cho nó có danh tiếng hơn người. Khi có danh tiếng rồi nếu bị người khác đả phá hay cướp lấy, không thể nào chịu nổi, do đó phải bám lấy danh cho được.
  8. Tám là thực: cũng vì muốn cho thân tứ đại này đầy đủ, sợ nó gầy, xấu nên bày ra đủ thứ để ăn uống cho thân tứ đại khỏe bền lâu, nên tìm đủ các món ăn dù tốn kém bao nhiêu cũng được, do đó phải thực cho thật ngon.
  9. Chín là thùy: sợ thân tứ đại bị xấu đi, nên tìm cách ngủ nghỉ cho êm ấm, tìm chỗ cao sang sạch sẽ để thùy.
  10. Mười là tham: cũng chỉ vì mang thân tứ đại nên phải tham để cung phụng có thân tứ đại.
  11. Mười một là sân: cũng vì mang thân tứ đại ai nói nặng hay đụng đến thân mình là phải sân.
  12. Mười hai là si: cũng vì có thân tứ đại nếu cái nó muốn mà không được là phải si.
  13. Mười ba là mạn: cũng vì thân tứ đại cộng với vọng thức của con người, nếu ai làm trái ý nó bộc lộ cái ngã mạn ra.
  14. Mười bốn là nghi: để bảo vệ thân tứ đại và vật chất mình có, nên không tin ai, vì chỗ không tin ai, nên người này nghi ngờ người kia, cũng vì nghi ngờ mà thù thắng với nhau.
  15. Mười lăm là ác: cũng vì sợ tổn hại đến thân tứ đại, nên bày ra đủ thứ hại người hại vật nên sanh ra ác.
  16. Mười sáu là kiến: cũng chỉ vì thân tứ đại và vọng tánh nên sanh ra cái mình nhận định là đúng, nếu ai bác bỏ liền bảo thủ cho kiến thức của mình là hay hơn hết, nên sanh ra kiến.

Trên đây là 16 thứ căn bản trên thế giới này nên sanh ra tranh giành hơn thua, chém giết với nhau. Vì vậy khi loài người nói riêng, còn vạn vật nói chung, khi bị lực hút của vật chất rồi, bắt buộc phải tuân theo quy luật của nó, không ai có thể nào cưỡng lại được.

Trích trong quyển: Đức Phật dạy tu Thiền Tông và Công thức Giải Thoát - Nhà xuất bản tôn giáo Hà Nội 

#thientong #giacngo #giaithoat #giaidapthientong #chankhong

Đức Phật dạy 16 thứ Tánh Người và Phương Pháp tu Thanh Tịnh Thiền
Chân Không

Chân Không

1629973687

Đức Phật dạy 16 thứ Tánh Người và Phương Pháp tu Thanh Tịnh Thiền

Người muốn tu giải thoát thì phải hiểu thật rõ 16 thứ tánh người, từ chỗ hiểu thật rõ đó, mới hiểu tu thế nào được giải thoát, tu thế nào còn bị luân hồi.

Căn bản 16 thứ tánh người như sau:

  1. Một là thọ: bộ phận thọ này nhận: khổ, vui, buồn, thương, giận, ghét…
  2. Hai là tưởng: bộ phận tưởng này tưởng tượng ra đủ thứ trên đời, chính cái tưởng này con người tưởng tượng ra để lừa gạt người ngu dại, còn người ngu dại bị sai lầm.
  3. Ba là hành: bộ phận hành này có 2 phần:
    -Hành mà thanh tịnh là hành của điện từ quang hành có 3 phần:
    Dẫn 4 phần trong phật tánh đi xa hoặc thu lại gần.
    -Dẫn 1 phần rất nhỏ của kim thân 1 vị phật, phân thân, hóa thân, hay ứng thân đến tam giới nào đó trong vũ trụ này, nơi có loài người sinh sống mà người đó muốn giải thoát, thì vị phật trong bể tánh mới giúp, còn người nào không muốn giải thoát vị phật không giúp, vì sao vậy?
    -Vì người này thích luân hồi, thì vị phật trong phật giới làm sao giúp được.
    -Giống như ở thế giới này, bọn trẻ thích lô đùa, có ai đó bảo nó nghỉ, nó sẽ chửi lại ngay.
    -Để chứng minh phần này khi đức phật thích ca Mâu Ni bảo đại chúng và ông xá Lợi Phất đừng dụng công tu nghi, tìm nữa. Đức Phật bị ông Xá Lợi Phất và những người có mặt chửi đức phật liền.
  4. Bốn là thức: gọi là biết, nhưng biết trong thanh tịnh là phật tánh biết, còn biết mà chồng thêm cái ham muốn nữa, tức dính mắc là biết của tánh người.
  5. Năm là tài: vì có thân tứ đại lên phải tìm đủ mọi cách kiếm cho nhiều tiền của để cung phụng cho thân tứ đại này, nên sanh ra tham tài.
  6. 6-Sáu là sắc: Cũng vì muốn cho thân tứ đại này thụ hưởng sắc đẹp của thân và vật chất nên tìm kiếm sanh ra ham sắc.
  7. Bảy là danh: cũng vì muốn cho thân tứ đại này và vọng tánh của mình được hơn hẳn những người chung quanh, nên phải làm sao cho nó có danh tiếng hơn người. Khi có danh tiếng rồi nếu bị người khác đả phá hay cướp lấy, không thể nào chịu nổi, do đó phải bám lấy danh cho được.
  8. Tám là thực: cũng vì muốn cho thân tứ đại này đầy đủ, sợ nó gầy, xấu nên bày ra đủ thứ để ăn uống cho thân tứ đại khỏe bền lâu, nên tìm đủ các món ăn dù tốn kém bao nhiêu cũng được, do đó phải thực cho thật ngon.
  9. Chín là thùy: sợ thân tứ đại bị xấu đi, nên tìm cách ngủ nghỉ cho êm ấm, tìm chỗ cao sang sạch sẽ để thùy.
  10. Mười là tham: cũng chỉ vì mang thân tứ đại nên phải tham để cung phụng có thân tứ đại.
  11. Mười một là sân: cũng vì mang thân tứ đại ai nói nặng hay đụng đến thân mình là phải sân.
  12. Mười hai là si: cũng vì có thân tứ đại nếu cái nó muốn mà không được là phải si.
  13. Mười ba là mạn: cũng vì thân tứ đại cộng với vọng thức của con người, nếu ai làm trái ý nó bộc lộ cái ngã mạn ra.
  14. Mười bốn là nghi: để bảo vệ thân tứ đại và vật chất mình có, nên không tin ai, vì chỗ không tin ai, nên người này nghi ngờ người kia, cũng vì nghi ngờ mà thù thắng với nhau.
  15. Mười lăm là ác: cũng vì sợ tổn hại đến thân tứ đại, nên bày ra đủ thứ hại người hại vật nên sanh ra ác.
  16. Mười sáu là kiến: cũng chỉ vì thân tứ đại và vọng tánh nên sanh ra cái mình nhận định là đúng, nếu ai bác bỏ liền bảo thủ cho kiến thức của mình là hay hơn hết, nên sanh ra kiến.

Trên đây là 16 thứ căn bản trên thế giới này nên sanh ra tranh giành hơn thua, chém giết với nhau. Vì vậy khi loài người nói riêng, còn vạn vật nói chung, khi bị lực hút của vật chất rồi, bắt buộc phải tuân theo quy luật của nó, không ai có thể nào cưỡng lại được.

Trích trong quyển: Đức Phật dạy tu Thiền Tông và Công thức Giải Thoát - Nhà xuất bản tôn giáo Hà Nội 

#thientong #giacngo #giaithoat #giaidapthientong #chankhong

Chân Không

Chân Không

1629986216

Đức Phật dạy "tu" Thiền Tông

MỤC LỤC

  1. Lời nói đầu
  2. Kính Mừng Phật Đản
  3. Phân tích 6 Pháp môn Tu trong bài kệ Kính Mừng Phật Đản của Tổ Mã Minh
  4. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy về ý sâu mầu của Pháp môn Thiền tông
  5. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy về cấp giấy chứng nhận cho người đạt được “Bí Mật Thiền Tông”
  6. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy kỹ về Nhân – Quả ai Tu theo Vật lý
  7. Những điều người quyết chí “Tu” theo Thiền tông phải nắm thật rõ
  8. Cuộc đời và Tu hành của Đức Phật
  9. Đức Phật dạy về Mười Pháp Giới của Loài Người
  10. Đức Phật dạy “Tu” Thanh Tịnh Thiền
  11. Lời soạn giả
  12. Một số câu hỏi từ trước đến nay chưa ai hỏi

01. LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa quý độc giả:

Thái  tử Tất Đạt Đa tu hành chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni và thành lập ra đạo Phật. Trong 49 năm, Ngài đi nói về chân thật nơi Thế giới và Vũ trụ này, và dạy 6 pháp môn tu chánh như sau:

Một: Tiểu Thừa

Ai muốn tu biến vật thể từ nhỏ ra lớn hay  trùm khắp. Ngài dạy pháp môn tu thiền “Quán” và “Tưởng”. Pháp môn này, Đức Phật dạy ban đầu nên gọi là Nguyên thủy. Nói theo hình tướng: Pháp môn này thành tựu rất nhỏ nên  gọi là Tiểu thừa. Người dụng công tu để có những hiện tượng lạ như:

– Quán, Tưởng tô nước để trước mặt cho loan ra trùm khắp cả phòng, hoặc là màu đỏ của đóm lửa cây nhang,  loan ra trùm khắp. Pháp môn này hiện nay được rất nhiều nước áp dụng, như:Tích Lan(Sri Lanka). Miến Điện. Lào. Campuchia. Một phần miền Nam Việt Nam.

Hai: Trung Thừa

Đức Phật dạy “Lý luận”. Pháp môn này gọi là “Triết lý Phật Thích Ca”. Người tu theo pháp môn này phần nhiều đi làm Giảng sư:  Lý luận về lời dạy của Đức Phật, cho nhiều người hiểu, chứ về giải thoát, pháp môn này không  biết được! Vì nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.

Ba: Đại thừa

Ai tu muốn tìm hiểu từ vật nhỏ hay lớn và khắp nơi Thế giới hay trong Vũ trụ này, Đức Phật dạy pháp “Nghi” và “Tìm”. Pháp môn này, giúp người tu  biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ hoặc lớn. Người tu biết rất mênh mông trong Vũ trụ, nên gọi là Đại thừa.

Pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ áp dụng và tìm ra được sự thật bên sau vật chất, hay ẩn sâu trong vạn vật, được thành công rất nhiều. Các Nhà Khoa học gọi là “Phát minh”.

Còn người tu theo Phật giáo hiện nay, rất ít người tu pháp môn này, mà chỉ nghe họ nói, mình tu theo Đại thừa Phật giáo, chứ không thấy họ thực hành!

Vì sao không thấy họ thực hành?

– Vì họ không biết!

Khi Đức Phật dạy 3 pháp môn tu: Tiểu, Trung và Đại thừa rồi, những người theo học với Ngài, họ  thắc mắc nên hỏi:

– Kính thưa Đấng Gô-Ta-Ma (cũng gọi là Cồ Đàm): Chúng tôi theo Ngài tu, nghe Ngài dạy các pháp môn: Tiểu, Trung và Đại thừa, nhưng chúng tôi không thấy hợp.Vậy, Ngài có pháp môn tu nào để đến chỗ sung sướng hay có những điều đặc biệt kỳ bí không, xin Ngài chỉ dạy cho chúng tôi?

Đức Phật thấy trong Giáo đoàn của Ngài mỗi ngày một ít người đến học, nên sẵn có người hỏi pháp tu để hưởng sung sướng và kỳ bí, nên Đức Phật dạy thêm 2 pháp môn tu nữa:

Bốn:  Tịnh độ

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Ai muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt hảo, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông ca hót, toàn là những thứ chim quí. Quí ông  tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

Sao gọi là Tịnh Độ?

– Tịnh, là Thanh tịnh.

– Độ, là đưa qua.

Đưa qua đâu?

– Vì các ông đang sống trong ồn ào luân chuyển của Vật lý Thế giới và bị sức hút của Âm Dương, nên không ai an ổn được! Pháp môn tu này đưa các ông đến nơi thanh tịnh, các ông không còn bị luân hồi nữa.

Như Lai dạy các ông cách tu pháp môn này như sau:

Khi Tâm các ông thật sự thanh tịnh, có hiện tượng gì, tức khắc nhận ngay. Nếu không có duyên nhận, liền niệm Phật A Di Đà; mà phải niệm cho đến khi nào Tâm mình không còn một niệm, tức là vô niệm. Đến đây, các ông sẽ thấy được lần thứ 2, liền nhận. Nếu không nhận được nữa, thì thôi, Đức Phật “A Di Đà”  và các vị “Phụ tá” của Ngài sẽ đến rước người niệm về nước của Ngài ở. Cõi của Ngài ở rất thanh tịnh, trang nghiêm và có đủ thứ mà các Ông Bà ham muốn. Vì vậy, nước của Ngài được gọi là “Tịnh Độ”.

Năm: Mật chú

Pháp môn thứ 2 là niệm “Mật chú”: Pháp môn tu này các ông dùng câu “Thần chú” để niệm, các ông cũng niệm liên tục, niệm cho đến khi nào tiếng niệm của các ông không còn nữa, tức khắc các ông bị “rơi vào trạng thái rất kỳ diệu”; cái kỳ diệu đó, ở Thế giới này các ông không tìm thấy bất cứ nơi đâu. Pháp môn niệm Mật chú này, Như Lai gọi là tu “Mật Chú tông”. Khi Tâm được thật sự thanh tịnh rồi, các ông muốn gì, thì những hiện tượng ấy sẽ hiện ra!

Sáu: – Thanh tịnh thiền

Ai muốn tu giác ngộ để được giải thoát, Đức Phật dạy pháp môn tu “Tối Thượng thừa thiền”. Pháp môn này không Quán, không Tưởng, cũng không Lý luận hay không Nghi Tìm gì cả, mà chỉ cần để Tâm tự nhiên:

– “Thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri”.

Khi thuần thục sẽ “bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận”. Đức Phật gọi là “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” cũng gọi là “quê hương chân thật của mỗi người”. Vào đây, không còn bị sức hút của Vật lý Thế giới này nữa, nên được giải thoát!

Người sưu tầm, biên soạn kiêm tác giả NGUYỄN  NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân

Thái  tử Tất Đạt Đa tu hành chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni và thành lập ra đạo Phật. Trong 49 năm, Ngài đi nói về chân thật nơi Thế giới và Vũ trụ này, và dạy 6 pháp môn tu chánh như sau:

  1. Một: Tiểu Thừa
    Ai muốn tu biến vật thể từ nhỏ ra lớn hay  trùm khắp. Ngài dạy pháp môn tu thiền “Quán” và “Tưởng”. Pháp môn này, Đức Phật dạy ban đầu nên gọi là Nguyên thủy. Nói theo hình tướng: Pháp môn này thành tựu rất nhỏ nên  gọi là Tiểu thừa. Người dụng công tu để có những hiện tượng lạ như:
    – Quán, Tưởng tô nước để trước mặt cho loan ra trùm khắp cả phòng, hoặc là màu đỏ của đóm lửa cây nhang,  loan ra trùm khắp. Pháp môn này hiện nay được rất nhiều nước áp dụng, như:Tích Lan(Sri Lanka). Miến Điện. Lào. Campuchia. Một phần miền Nam Việt Nam.
  2. Hai: Trung Thừa
    Đức Phật dạy “Lý luận”. Pháp môn này gọi là “Triết lý Phật Thích Ca”. Người tu theo pháp môn này phần nhiều đi làm Giảng sư:  Lý luận về lời dạy của Đức Phật, cho nhiều người hiểu, chứ về giải thoát, pháp môn này không  biết được! Vì nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.
  3. Ba: Đại thừa
    Ai tu muốn tìm hiểu từ vật nhỏ hay lớn và khắp nơi Thế giới hay trong Vũ trụ này, Đức Phật dạy pháp “Nghi” và “Tìm”. Pháp môn này, giúp người tu  biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ hoặc lớn. Người tu biết rất mênh mông trong Vũ trụ, nên gọi là Đại thừa.
    Pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ áp dụng và tìm ra được sự thật bên sau vật chất, hay ẩn sâu trong vạn vật, được thành công rất nhiều. Các Nhà Khoa học gọi là “Phát minh”.

    Còn người tu theo Phật giáo hiện nay, rất ít người tu pháp môn này, mà chỉ nghe họ nói, mình tu theo Đại thừa Phật giáo, chứ không thấy họ thực hành!
    Vì sao không thấy họ thực hành?
    – Vì họ không biết!

    Khi Đức Phật dạy 3 pháp môn tu: Tiểu, Trung và Đại thừa rồi, những người theo học với Ngài, họ  thắc mắc nên hỏi:
    – Kính thưa Đấng Gô-Ta-Ma (cũng gọi là Cồ Đàm): Chúng tôi theo Ngài tu, nghe Ngài dạy các pháp môn: Tiểu, Trung và Đại thừa, nhưng chúng tôi không thấy hợp.Vậy, Ngài có pháp môn tu nào để đến chỗ sung sướng hay có những điều đặc biệt kỳ bí không, xin Ngài chỉ dạy cho chúng tôi?

    Đức Phật thấy trong Giáo đoàn của Ngài mỗi ngày một ít người đến học, nên sẵn có người hỏi pháp tu để hưởng sung sướng và kỳ bí, nên Đức Phật dạy thêm 2 pháp môn tu nữa:
  4. Bốn:  Tịnh độ
    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Ai muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt hảo, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông ca hót, toàn là những thứ chim quí. Quí ông  tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

    Sao gọi là Tịnh Độ?
    – Tịnh, là Thanh tịnh.
    – Độ, là đưa qua.

    Đưa qua đâu?
    – Vì các ông đang sống trong ồn ào luân chuyển của Vật lý Thế giới và bị sức hút của Âm Dương, nên không ai an ổn được! Pháp môn tu này đưa các ông đến nơi thanh tịnh, các ông không còn bị luân hồi nữa.

    Như Lai dạy các ông cách tu pháp môn này như sau:
    Khi Tâm các ông thật sự thanh tịnh, có hiện tượng gì, tức khắc nhận ngay. Nếu không có duyên nhận, liền niệm Phật A Di Đà; mà phải niệm cho đến khi nào Tâm mình không còn một niệm, tức là vô niệm. Đến đây, các ông sẽ thấy được lần thứ 2, liền nhận. Nếu không nhận được nữa, thì thôi, Đức Phật “A Di Đà”  và các vị “Phụ tá” của Ngài sẽ đến rước người niệm về nước của Ngài ở. Cõi của Ngài ở rất thanh tịnh, trang nghiêm và có đủ thứ mà các Ông Bà ham muốn. Vì vậy, nước của Ngài được gọi là “Tịnh Độ”.
  5. Năm: Mật chú
    Pháp môn thứ 2 là niệm “Mật chú”: Pháp môn tu này các ông dùng câu “Thần chú” để niệm, các ông cũng niệm liên tục, niệm cho đến khi nào tiếng niệm của các ông không còn nữa, tức khắc các ông bị “rơi vào trạng thái rất kỳ diệu”; cái kỳ diệu đó, ở Thế giới này các ông không tìm thấy bất cứ nơi đâu. Pháp môn niệm Mật chú này, Như Lai gọi là tu “Mật Chú tông”. Khi Tâm được thật sự thanh tịnh rồi, các ông muốn gì, thì những hiện tượng ấy sẽ hiện ra!
  6. Sáu: Thanh tịnh thiền
    Ai muốn tu giác ngộ để được giải thoát, Đức Phật dạy pháp môn tu “Tối Thượng thừa thiền”. Pháp môn này không Quán, không Tưởng, cũng không Lý luận hay không Nghi Tìm gì cả, mà chỉ cần để Tâm tự nhiên:
    – “Thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri”.
    Khi thuần thục sẽ “bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận”. Đức Phật gọi là “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” cũng gọi là “quê hương chân thật của mỗi người”. Vào đây, không còn bị sức hút của Vật lý Thế giới này nữa, nên được giải thoát!

Người sưu tầm, biên soạn kiêm tác giả NGUYỄN  NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân

Nguồn: Thiền Tông

#thientong #giacngo #giaithoat #nhattuthien

Chân Không

Chân Không

1630851967

Đức Phật dạy THẤY bằng Tánh Phật cho vua Ba Tư Nặc

– THƯA BÁC, TRONG CÁC QUYỂN KINH, CÓ KINH NÀO ĐỨC PHẬT DẠY TÁNH THẤY, BẰNG TÁNH PHẬT CỦA MÌNH KHÔNG, THƯA BÁC?

Bác Nguyễn Nhân trả lời: “Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy thấy bằng tánh Phật cho vua Ba Tư Nặc.”

Câu chuyện như sau:

Khi Đức Phật cùng với vua Ba Tư Nặc ngồi trong nhà, chờ thuyền đi qua sông Hằng. Vua Ba Tư Nặc có hỏi Đức Phật như sau:

– Thưa ông Cồ Đàm, làm sao Trẫm biết được Trẫm có cái chân thật?

Đức Phật mới hỏi vua Ba Tư Nặc:

– Này vua Ba Tư Nặc, năm nay vua được bao nhiêu tuổi?

Vua Ba Tư Nặc trả lời:

– Năm nay Trẫm được 62 tuổi.

Đức Phật hỏi:

– Trước đây, vua có đi qua sông Hằng này không?

Vua Ba Tư Nặc trả lời:

– Hồi 3 tuổi, Trẫm được mẹ dẫn đi qua sông Hằng này, đến Đền Thần Tỳ Bà Thiên. Trẫm có nhìn thấy sông Hằng này.

Đức Phật hỏi vua Ba Tư Nặc:

– Vậy, năm nay vua đã 62 tuổi, vua thấy nước sông Hằng này so với khi vua mới 3 tuổi, nước sông Hằng có khác gì không?

Vua Ba Tư Nặc đáp:

– Trẫm từ lúc mới 3 tuổi, nay Trẫm đã 62 tuổi, thấy nước sông Hằng cũng như nhau, không khác gì cả.

Đức Phật nói với vua Ba Tư Nặc:

– Thân của vua lúc mới 3 tuổi, nay vua đã 62 tuổi, có khác không?

Vua Ba Tư Nặc trả lời:

– Thân của Trẫm lúc mới 3 tuổi, nay đã 62 tuổi, đã khác rất xa.

Đức Phật hỏi vua Ba Tư Nặc:

– Hồi 3 tuổi, vua thấy dòng nước sông Hằng, nay vua đã 62 tuổi, vua thấy dòng nước sông Hằng có khác không?

Vua Ba Tư Nặc trả lời:

– Trẫm nhìn thấy dòng nước sông Hằng không khác.

Đức Phật nói với vua Ba Tư Nặc:

– Ở thế gian này, những gì có biến đổi là không thật. Những gì không biến đổi là chân thật.

– Thân của vua có biến đổi là không thật.

– Còn tánh Thấy nước sông Hằng của vua không biến đổi là tánh Thấy chân thật của vua đó.

Vua Ba Tư Nặc nói với Đức Phật:

– Như vậy, Trẫm đã biết rồi, tánh Thấy của Trẫm không thay đổi, chính là tánh Phật của Trẫm đó.

Cám ơn ông Cồ Đàm đã chỉ tánh Phật của Trẫm cho Trẫm biết.

TRÍCH: LÁ THƯ ĐẶC BIỆT CỦA ÔNG HOÀNG CHƯƠNG GỬI TỪ SAN JOSÉ, CALIFORNIA, HOA KỲ.

Xem thêm: Đức Phật dạy Công Thức Giải Thoát

Chân Không

Chân Không

1630393851

Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền Tông

Những người tìm hiểu hay tu theo đạo Phật, ít có người nghe đến hai danh từ Huyền Ký của Đức Phật dạy.

Vì sao vậy?

– Vì tập Huyền Ký này, Đức Phật dạy vào một năm sau cùng trước khi Đức Phật nhập Niết bàn. Đức Phật chỉ dạy riêng cho 15 đệ tử của Ngài là những vị đã giác ngộ “Yếu chỉ Thanh Tịnh Thiền” trở lên. Sau cùng, Đức Phật trao tập Huyền Ký này cho ông Ma Ha Ca Diếp, là vị Tổ Thiền tông đời thứ Nhất, nhờ vị Tổ này truyền riêng theo dòng Thiền tông. Vì vậy, các kinh điển phổ thông chúng ta không thấy tập Huyền Ký này là vậy.

Vì sao Đức Phật không truyền theo các kinh điển phổ thông?

Chúng tôi xin trích một phần nhỏ nguyên nhân mà Đức Phật dạy trong tập Huyền Ký của Ngài như sau:

Ngày xưa, tín ngưỡng của dân nước Ấn Độ chia ra làm 2 thành phần:

Thành phần thứ nhất:

* Những người bình dân họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Thượng Đế” sinh ra.

– Con người và vạn vật cũng do Thượng Đế làm ra.

– Hai bên “Vai giáp” của mỗi con người có 2 vị “Thần chấm điểm” việc làm thiện hay ác của con người.

– Khi con người chết đi, thì được các vị “Phán quan” xem việc làm thiện và ác của họ ở mức độ nào mà trình với “Vua Diêm Vương”:

– Nếu họ làm thiện nhiều, thì được Vua Diêm Vương trình lên Thượng Đế cho lên “Thiên Đàng” ở hưởng sung sướng đời đời.

– Còn làm ác nhiều, thì Vua Diêm Vương tự Ngài sai “Ngưu Đầu Mã Diện” đem giam vào các tầng Địa Ngục để trị tội.

Thành phần thứ hai:

* Những người tu hành họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Đấng Tạo Hóa” sanh ra.

– Loài người và vạn vật cũng do Đấng Tạo Hóa làm nên.

– Họ cũng tin tưởng: Loài người sống nơi trái đất này có 2 con đường đi sau khi chết:

Một: Làm thiện thì được lên cõi Trời hưởng phước.

Hai: Làm ác phải bị đày vào Địa Ngục để thọ lãnh quả xấu do họ tự tạo ra nơi thế giới này.

Do vậy:

Dạng người tu hành thứ nhất:

– Họ chủ trương làm 2 việc như sau:

Một: Mỗi ngày phải “Sám hối” những việc làm sai trái của họ.

Hai: Cầu xin Đấng Tạo Hóa rước họ về “Nước Trời” ở để không còn bị khổ ở Thế gian này nữa.

Dạng người tu hành thứ hai: Họ tin tưởng rằng:

– Muốn hết tội lỗi do mình làm ra, duy nhất chỉ xuống sông Hằng tắm cho sạch thì mới hết tội lỗi được.

– Và nhiều tín ngưỡng khác nữa.

Trên đây là người xưa của nước Ấn Độ tin và làm như vậy.

Mục Lục

  1. Lời giới thiệu
  2. Cấu trúc Càn khôn vũ trụ
  3. Các hành tinh có sự sống
  4. Quy luật luân hồi nơi Trái đất
  5. Cõi trời Ngọc Hoàng Thượng Đế
  6. Bảng phân loại Tần số 18 Tầng Địa Ngục
  7. Cách hình thành một Trung Ấm Thân
  8. Bài sám hối theo Thiền tông
  9. Đức Phật truyền Bí mật thanh tịnh thiền cho Ma Ha Ca Diếp
  10. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông – P1
  11. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông – P2
  12. Bài kệ 60 câu Đức Phật dạy về những gì trong Tánh Phật
  13. Bài kệ 20 câu của Thiền sư Ni Đức Thảo
  14. Bài kệ ngộ Thiền của Tiền Thân Đức Phật ở Trời Đâu Suất
  15. Ngài A Nan trình với Đức Phật
  16. Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận Tập Huyền ký của Đức Phật
  17. Điều kiện cấp giấy và phong Thiền
  18. Đức Phật dạy về Tập Huyền Ký
  19. Ngài Ma Ha Ca Diếp hỏi về cất chùa?
  20. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về Tâm thanh tịnh?
  21. Ngài Phú Lâu Na hỏi về Bồ Tát?
  22. Ngài A Nan hỏi về chùa?
  23. Tỳ kheo Phất Trần Thi hỏi về Trái đất?
  24. Tỳ kheo A Lạt Đề hỏi về 37 pháp quán trợ đạo?
  25. Tỳ kheo Trường An Thịnh hỏi về Càn khôn vũ trụ?
  26. Tỳ kheo Lễ Thành An hỏi về Bồ Tát và A La Hán?
  27. Cư sỹ Liên Trường Phát hỏi về Kiến Tánh?
  28. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về nhìn thấy Bể Tánh?
  29. Cư sỹ Lương Khánh Hoàng hỏi về tự tu tập?
  30. Tỳ kheo Uất Phương Lam hỏi về Thượng Đế?
  31. Cư sỹ Lưỡng Hành Tuyền hỏi về khấn nguyện?
  32. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về  Lời nguyền của Ma Vương?
  33. Cư sỹ Lễ Trân Châu hỏi về quy luật luân hồi của Trái đất?
  34. Tỳ kheo A Luật Đà hỏi về Trung Ấm Thân?
  35. Ngài A Nan hỏi Đức Phật 5 câu?
  36. Tám phần dạy sau cùng của Đức Phật
  37. Đức Phật dạy thêm về Tập Huyền ký
  38. Bài kệ Kính mừng Phật Đản của Tổ Mã Minh
  39. Buổi lễ công bố Huyền ký của Lục Tổ Huệ Năng
  40. Tổ Thiền tông Việt Nam
  41. Giới thiệu chùa Thiền tông Tân Diệu
  42. Tôn chỉ – Cương Lĩnh của chùa Thiền tông Tân Diệu
  43. Nội qui của chùa Thiền tông Tân Diệu
  44. Lời giải bày của viện chủ chùa Thiền tông Tân Diệu
  45. Bài kệ phong Thiền gia cho soạn giả
  46. Đức Phật dạy riêng cho Thiền tông gia
  47. Lời dạy của Đức Phật
  48. Các ấn phẩm đã xuất bản

Xem thêm: Thiền Tông

#thientong #giacngo #giaithoat

Đức Phật dạy tu Thiền Tông và Công thức Giải Thoát

What is Buddha nature?

The nature is a sheath created by the energy of halo.

1/- In the nature has a mind

2/- In the mind there are 4 things: Seeing, Hearing, Speaking and Awareness

3/- Buddha is vastness space immense embrace to the Universe.

4/- Therefore, called Buddha nature.


How to develop the human being’s nature and how to disintegrate the human’s nature?

Development of 1 human nature has 8 elements:

1/- Wanting of Buddha nature that borrow human’s body to create merit.

2/- Buddha nature

3/- Man’s sperm and women’s ovum

4/- The electromagnetic energy of Yin + Yang attraction

5/- Mother’s Uterus

6/- Sleep in the Mother’s uterus

7/- Duration of time is 9 months and 10 days

8/- Mother give birth a human’s body, human nature is developed.

Human nature could disintegrate just have 4 elements:
1/- Buddha nature must want to return back to the Buddha Realm.

2/- Buddha nature must remember all natures: Seeing – Hearing – Speaking – Awareness of one’s
Buddha nature, all together called “Seeing Nature”.

3/- Depending on this Seeing Nature that Buddha Nature control human nature to create merit.

4/- Merit is perfectly full, Buddha nature control the sheath of human nature to become the super-fast
and light Intermediate State Body. It becomes the transportation condition for Buddha nature and the
unit of merit passing over the Yang Ocean Tide gate of the earth, entering the Operation Center of
reincarnation of the Three Realm. This Intermediate State Body enter the Operation Center of
Reincarnation of the Three Realm, there is no longer physics attraction of the electromagnetic energy
of Yin + Yang, therefore the Intermediate State Body must disintegrate and return merging together
with Yin + Yang energy. Human nature is immediately disappeared.
Buddha Nature and the unit of merit are freedom passing over the Yang Ocean Tide gate to return back
to the Buddha Realm.
Đức Phật dạy tu Thiền Tông và Công thức Giải Thoát: ☞ https://youtu.be/zNIdnGXs3uk?list=PLO... 

Công Đức là gì? Cách tạo Công Đức trong sáng 👉 https://www.youtube.com/watch?v=ek6IZ...