KINH KỆ

WHAT IS Nirvana?


Dear World Honored One, we understood what World Honored One educated us, except 1 part that we
have not understood yet, May World Honored One please teach us:


Those who practice asceticism have purpose that is to cultivate endeavoring and squeezing their
physical mind to be still. So, how do we call that state of attainments, World Honored One?


The Buddha taught:
Katyayana, the ascetic monk’s practice with the purpose of cultivating and squeezing their bodies as
well as mind to be peaceful. 

When they successfully attained that stillness, which is created by
cultivating and practicing, 

is called “Secluded” or “Serene”.

 These people dwell into that state, which
is called “Secluded Nirvana”.

 The dwelling time depends on their effort in cultivating and endeavoring
to squeeze their body and mind. If they cultivate to sit by 1 hour, then the Secluded Nirvana lasts for 1
hour.

 If they prolong the cultivating time to 1 day, then Secluded Nirvana is maintained to 1 day.

 Even though the law of samsara in this Earth cannot swirl them away when they are in this kind of Nirvana,
it will work again when they leave that Secluded Nirvana.


These ascetic people who cultivate to squeeze their body and mind to be serene are called “Arhat”,


which means that one living in peaceful separation. When they live in this Earth, they do not contact
with anyone and they usually establish a separating hut or they enter a cave, or a mountain to live
alone.


Venerable Katyayana was pleasant. He respectfully bowed to the Buddha and then withdrew.

the source: https://thientong.com/kinh-ke/

 

KINH KỆ

KINH KỆ

WHAT IS Nirvana?


Dear World Honored One, we understood what World Honored One educated us, except 1 part that we
have not understood yet, May World Honored One please teach us:


Those who practice asceticism have purpose that is to cultivate endeavoring and squeezing their
physical mind to be still. So, how do we call that state of attainments, World Honored One?


The Buddha taught:
Katyayana, the ascetic monk’s practice with the purpose of cultivating and squeezing their bodies as
well as mind to be peaceful. 

When they successfully attained that stillness, which is created by
cultivating and practicing, 

is called “Secluded” or “Serene”.

 These people dwell into that state, which
is called “Secluded Nirvana”.

 The dwelling time depends on their effort in cultivating and endeavoring
to squeeze their body and mind. If they cultivate to sit by 1 hour, then the Secluded Nirvana lasts for 1
hour.

 If they prolong the cultivating time to 1 day, then Secluded Nirvana is maintained to 1 day.

 Even though the law of samsara in this Earth cannot swirl them away when they are in this kind of Nirvana,
it will work again when they leave that Secluded Nirvana.


These ascetic people who cultivate to squeeze their body and mind to be serene are called “Arhat”,


which means that one living in peaceful separation. When they live in this Earth, they do not contact
with anyone and they usually establish a separating hut or they enter a cave, or a mountain to live
alone.


Venerable Katyayana was pleasant. He respectfully bowed to the Buddha and then withdrew.

the source: https://thientong.com/kinh-ke/

 

Chân Không

Chân Không

1631514805

Các Chùa gõ mõ, tụng kinh là đang tu gì?

Cụ ông Trịnh Thái Châu, sanh năm 1940, tại Cà Mau, cư ngụ tại Tp. Cần Thơ, hỏi như sau:

- Hiện nay, chúng tôi thấy chùa nào cũng gõ mõ, tụng kinh, tu như vậy có phải là tu Tịnh độ không?

Trưởng ban trả lời:

- Như cụ đã biết, người tu Tịnh độ, là tu cho tâm mình được thanh tịnh. Bởi vậy, trong kinh A Di Đà có dạy: Người tu Tịnh độ, phải tu làm sao cho tâm mình được định hoàn toàn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy: Phải định trong cái “Tịnh độ trung”. Tức là Tịnh độ nơi tâm mình. Như vậy, người gõ mõ tụng kinh không phải tu Tịnh độ.

Các vị tu tụng, ở trong chùa được xếp như sau:

- Quý thầy hoặc quý Sư cô, tu trong chùa, mà đi tụng đám, để kiếm tiền, được xếp vào “Thầy tụng”.

Cụ Trịnh Thái Châu hỏi tiếp:

- Còn các chùa hiện nay, quý thầy: Tụng đám, coi ngày, xem giờ, cầu siêu, cầu an, v.v..., quý thầy ấy được gọi là thầy gì?

Trưởng ban trả lời:

- Thầy tụng đám, gọi là thầy cúng.

- Thầy coi ngày, xem giờ, gọi là thầy bói.

- Thầy cầu siêu, cần an, gọi là thầy cầu.

Cụ Trịnh Thái Châu lại hỏi tiếp:

- Có vị xưng mình là Thiền sư, nhưng họ lại đi cầu siêu, vị đó có phải là Thiền sư không?

Trưởng ban trả lời:

- Xét đúng lời của Đức Phật dạy: Thiền sư thứ thiệt không đi làm những chuyện ấy, mà vị nào là Thiền sư thứ thiệt, họ phải hiểu tất cả các pháp môn thiền của Nhà Phật, và phải hiểu tất cả các pháp môn của đạo khác. Duy nhất việc làm của Thiền sư: Dạy và phân tích việc tu Thiền của Đức Phật dạy, mà phải hiểu tột cùng, nhất là Thiền tông học phải thấu triệt.

Trưởng ban nói tiếp:

- Xin trình cho cụ rõ: Từ khi Đức Phật thành lập ra Giáo đoàn chỉ có 3 pháp môn tu như sau:

Một: Tu thiền: Quán, tưởng. Pháp môn này Đức Phật dạy 15 năm đầu, được gọi là Nguyên thủy, danh từ hiện nay là thiền Tiểu thừa.

Hai: Tu thiền: Nghi, tìm. Pháp môn tu này Đức Phật dạy vào các năm gần sau cùng, được gọi là Đại thừa.

Ba: Tu Thanh tịnh thiền: Để tâm thanh tịnh, rỗng lặng, hằng tri. Pháp môn này Đức Phật dạy 4 năm sau cùng nơi vùng núi Linh Sơn, gọi là “Như Lai Thanh tịnh thiền”. Chính pháp môn Thanh tịnh thiền này, mới dẫn chúng sanh đến quả Phật được.

Còn gõ mõ tụng kinh: Pháp môn này do Hòa thượng Hoa Lâm, thời Nhà Đường bên Trung Hoa, Ngài biên soạn theo ý các kinh để cho người tu theo đạo Phật để nhớ mà hành theo lời Đức Phật dạy, chớ không phải để tụng.

Sau này: Các chùa họ biến những lời của Hòa thượng Hoa Lâm thành một pháp môn tụng. Các Thiền sư gọi pháp môn tụng ấy là pháp môn “trình Phật”!

Cũng từ pháp môn tụng này: Các thầy chế biến ra để đi tụng kiếm tiền, dần dần sau này thành thói quen. Do đó, người kém học thức làm sai hồi nào mà mình không hay biết!

Mặt khác, các chùa lấy lời kinh tiếng kệ để ru ngủ lòng người, cho bớt tham lam và hung dữ. Cũng kể từ ngày đó: Môn tụng này được nhiều người ưa thích, nên tồn tại đến ngày hôm nay.

Xin nói cho thật rõ thêm: Đức Phật dạy đạo, các đệ tử Ngài ghi chép lại thành kinh, để dìu dắt chúng sinh trở về nguồn cội của chính mình. Cụ thử nghĩ xem: Đức Phật dạy đạo để cho mọi người biết đường về quê xưa của mỗi người. Trái lại, chúng ta không chịu làm theo lời Ngài dạy, mà đem lời dạy của Ngài, đến trước tượng xi măng, hay tượng gỗ, đọc cho tượng xi măng hay tượng gỗ nghe! Người hiểu biết lời Đức Phật dạy, họ sẽ nghĩ gì về người đọc tụng đó như thế nào?

Xin nói rõ thêm: Nếu hiện giờ, chúng ta bị bệnh, thầy thuốc kê toa, bảo đến nhà thuốc mua thuốc đem về nhà uống để cho hết bệnh, mà chúng ta không chịu đi mua thuốc uống, mà ngày nào cũng đem toa thuốc ấy đến trước bác sỹ đọc! Các ông nghĩ sao, chúng ta là người gì?

Sở dĩ, hiện giờ chúng ta bị lầm lẫn việc này: Vì các chùa thiếu Luật sư Nhà Phật hướng dẫn, nên các chùa, hiểu sao làm vậy. Vô tình, mình tu theo đạo giác ngộ và giải thoát, mà lại không giác ngộ giải thoát gì cả, mà phải vướng mắc vào Nhân quả luân hồi lúc nào mà cũng không hay!

Trưởng ban nói thêm:

Hiện nay, chúng tôi hết sức buồn: Thấy có nhiều vị Thầy dạy đệ tử, khi có đệ tử mình có việc gì đó không may, vị Thầy đến cầu phúc cho đệ tử ấy.

Còn khi vị Thầy bị bệnh qua đời, các đệ tử ùn ùn kéo đến cũng để cầu an, cầu siêu cho vị Thầy của mình!? Thật là làm luẩn quẩn! Làm mất đi thanh cao của một vị Thầy thay mặt Phật, dạy lại những lời hay ý đẹp của Giáo chủ mình. Vô tình, biến đạo Phật thành đạo Thần quyền, ưa ban phước hay cho của thiên hạ lúc nào mà mình cũng không hay, v.v... Chúng tôi đã từng khóc! Khóc rất nhiều, khi thấy những trường hợp như trên đã xảy ra!

Trưởng ban lại nói thêm:

- Còn về coi tay, coi tướng, xin xăm, bói quẻ, ngày xấu, ngày tốt, v.v... đó là chuyện của các thầy Đồ bên đạo Lão. Sự việc này du nhập vào Việt Nam khi người Trung Hoa đến Việt Nam sinh sống, họ đem theo những tính ngưỡng của dân tộc họ. Cái đặc biệt của chúng sinh: Nghe ai nói gì cũng nghe, cũng làm theo, mà không kiểm chứng theo khoa học. Vì vậy, hiện nay chúng ta thấy quá nhiều tín ngưỡng nơi đất nước này. Hiện nay, đầu óc con người đã văn minh tột đỉnh rồi. Có thể nói: Bom Hạt nhân chỉ 2 nước Nga và Mỹ thôi, cũng đủ phá địa cầu này mấy lần cũng được! Nhưng loài người không đem sự hiểu biết của mình để giúp mọi người nhận ra điều gì thật, điều gì giả dối nơi Thế giới này? Đó là chúng ta nói mênh mông...

Còn các vị tu sỹ của Việt Nam: Cái gì làm có tiền thì làm, do đó mất đi cái tinh hoa Phật giáo hồi nào mà không biết, uổng công cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tìm ra con đường giác ngộ và giải thoát cho chúng sinh nơi cõi Nam Diêm Phù Đề này.

Cụ Trịnh Thái Châu nghe lời giải thích của Trưởng ban, cụ cũng rất buồn và cám ơn.

Thầy Thích Chí Hiếu, sanh năm 1985, tại Long An, cư ngụ tại tỉnh Đồng Nai, hỏi:

- Kính trưởng ban, tôi có đọc sách của tác giả Nguyễn Nhân. Có thể nói, Trưởng ban đã mở toan cánh cửa của Nhà Phật để mọi người ai thích tìm hiểu hay tu hành giác ngộ giải thoát có phương cách thực hành. Hôm nay, tôi đã giác ngộ được “Yếu chỉ Thiền tông”, muốn đền đáp công ơn của sư phụ mình, nhưng không biết phải nói làm sao, vì mỗi lần mở miệng ra nói, sư phụ tôi đều chửi:

- Mày muốn tu Thiền hả, coi chừng điên đó con! Tại sao mày không chịu niệm Phật? Có ai hơn Đức Phật không mà không chịu tu theo Ngài?

Hôm trước tôi đến đây, Trưởng ban có sát hạch về pháp môn Thiền tông học này, Trưởng ban xác nhận tôi đã giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”. Cũng vì muốn đền đáp công ơn của sư phụ, nên nay đến đây, xin Trưởng ban giải thích cho tôi 3 thắc mắc như sau, xin Trưởng ban giúp đở:

  • Lý do gì mà sư phụ tôi sợ tu Thiền?
  • Sư phụ tôi nay đã 68 tuổi rồi, tại sao người tu theo đạo Phật bị sai, mà không chịu tìm hiểu học hỏi để sửa cho đúng? Hơn nữa, hiện giờ sư phụ tôi thường hay bị đau yếu?
  • Làm sao giúp cho sư phụ tôi hiểu được chánh pháp của Đức Phật dạy để không còn bị trầm luân trong sanh tử nữa?

Kính xin Trưởng ban giải đáp cho, xin thành thật cám ơn:

Trưởng ban trả lời:

- Câu hỏi này không thuộc phạm vi Thiền tông học, đáng lẽ ra chúng tôi không trả lời; nhưng vì thầy quá tha thiết, cũng để quý vị có mặt tại đây hiểu thêm, chúng tôi xin trả lời như sau:

Con người có mặt trên Thế giới này là do Nhân quả từ nhiều đời nhiều kiếp. Do đó, ai có mặt nơi Thế giới này phải biết các nguyên lý như dưới đây thì mới bớt phần đau khổ.

- Mình phải tuân theo luật Nhân quả mà mình đã tạo ra từ vô lượng kiếp đến nay.

- Nếu biết mình bị Nhân quả xấu, trước phải tìm hiểu cho thật kỹ luật Nhân quả để chuyển hướng nó, không đi theo đường mê tối nữa.

- Phải dùng cái đầu khoa học thực tế để sống; sống này có 2 phần:

Cho phần tinh thần.

Cho phần thể xác.

Nếu biết và làm như trên, thì tự nhiên sẽ có chuyển biến tốt; còn trái lại: Tu theo đạo Phật mà không theo lời dạy của Đức Phật, thì chắc chắn phần xấu sẽ đến với mình!

- Sao phải tuân theo Nhân quả?

Vì Nhân quả là nguyên lý cố định nơi Thế giới này! Tôi đưa ví dụ như sau, thầy sẽ hiểu:

Thầy vay người khác 1 đồng, thì phải trả 1 đồng còn thầy viện cách này, cách nọ, mà không trả tức khắc, hoặc thời gian sau người cho vay sẽ có phản ứng thì những hậu quả sau này, người vay phải lãnh đủ.

- Nếu biết mình bị Nhân quả xấu, giống như người ở Thế gian này biết mình đang đi trên đường gồ ghề thì mình phải lựa chỗ mà đi, chớ biết đường xấu mà còn đi ẩu nữa, thì tai nạn sẽ đến thôi!

- Người sống nơi Thế giới Vật lý m Dương này, muốn làm bất cứ việc gì, cũng phải dùng cái đầu khoa học để làm, có nghĩa là phải kiểm chứng cho thật kỹ càng, chớ đừng đụng đâu làm đó, coi chừng cả đời làm chuyện uổng công phí sức, rồi bỏ đi thật là uổng!

A - Về tinh thần:

Người tu theo đạo Phật: Phải học cho thật hiểu, những lời cao sâu của Đức Phật dạy rồi mới tu. Người không biết ý cao sâu của đạo, nói vài tiếng rồi nhào vô tu, hãy coi chừng lạc vào tà đạo lúc nào mà mình không hay biết. Khi bị tà đạo vào trong tâm rồi, ai nói gì cũng không nghe.

Vì sao vậy?

- Vì đầu óc con người cấu tạo bằng Vật lý Trần gian này, do bị lực hút của m Dương. m thì quá mạnh, còn Dương thì lại quá yếu. Do đó, những chuyện gì gợi đúng lòng tham lam hay sợ sệt của chính mình, thì mình nhào vô liền! đây là cái ngu dại của con người. Khi tâm người nào bị những thứ tà bậy đó dính vào rồi, khó mà gở ra được! Do đó, sư phụ thầy đã bị các thứ tà bậy dính vào, thầy nói gì, cũng không nghe, trái lại còn chửi mắng thầy là phải!

Tại sao, có chuyện thầy nói pháp chân thật của Đức Phật dạy mà sư phụ thầy không nghe?

Trường hợp thầy giống như trường hợp của Ngài Xá Lợi Phất ngày xưa: Ban đầu Đức Phật dạy, Ngài Xá Lợi Phất tu theo pháp môn quán tưởng để đạt được 4 quả vị Thánh theo Thanh văn. Khi gần lìa Thế gian này, Đức Phật dạy pháp môn Tối Thượng thừa thiền, tức pháp môn Thanh tịnh thiền để đưa Ngài Xá Lợi Phất vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh, cũng gọi về với Phật giới. Ngài Xá Lợi Phất, nghi Đức Phật bị Ma ám!

Thầy thấy đó, Đức Thế Tôn mà còn bị Ngài Xá Lợi Phất nghi như vậy, thầy có phước đức bao nhiêu mà muốn dạy lại sư phụ mình? Thầy muốn giúp sư phụ mình, nhận ra chánh pháp của Như Lai dạy, hãy học theo gương của Thiền sư Thần Tán.

Tôi xin kể chuyện Thiền sư Thần Tán trả ơn cho sư phụ mình như sau:

- Khi Thiền sư Thần Tán giác ngộ được “Yếu chỉ Thiền tông” nơi Thiền sư Bá Trượng. Ngài về chùa cũ cũng hầu hạ và phục vụ sư phụ mình bình thường không tỏ vẻ gì mình là người ngộ đạo Thiền cả.

Sư phụ Thiền sư Thần Tán hỏi:

- Bấy lâu nay, ngươi lìa ta đi học đạo về, có được gì không?

Thiền sư Thần Tán thưa:

- Bạch sư phụ, khi xưa con đi tay không, hôm nay, con về cũng tay không.

Một hôm, sư phụ sai Ngài đi nấu nước để tắm, Ngài phục vụ như trước. Khi kỳ lưng sư phụ, Ngài Thần Tán vỗ vào lưng của sư phụ mình và nói:

- Điện Phật đẹp, mà không có Phật!

Sư phụ Thiền sư Thần Tán, quay lại nhìn Ngài. Ngài Thần Tán liền nói câu thứ hai:

- Tuy Phật đất mà hay phóng quang!

Thiền sư Thần Tán nói như vậy mà sư phụ mình không biết. Mấy ngày sau, sư phụ Thiền sư Thần Tán ngồi bên cửa sổ có dán giấy trắng chắn gió để ngăn lạnh mùa Đông, xem kinh. Có con ong trong chùa định chui qua cửa sổ để ra ngoài. Con ong cứ vo ve bay chui vào giấy trắng hoài mà không ra được. Thiền sư Thần Tán đi ngang thấy con ong chui vô cửa sổ như vậy, Ngài liền làm bài thơ để độ sư phụ mình. Ngài liền xuất khẩu thành bài thơ như sau:

Này con ong:

Ngu gì mà ngu như vậy.

Cửa thênh thang không chịu chui ra.

Cứ vùi đầu vào giấy cũ.

Trăm năm cứ cắm đầu vùi.

Vùi như vậy biết năm nào phủng?

Sư phụ nghe Ngài nói như vậy, liền bỏ quyển kinh xuông bàn, nói:

Ta cho ngươi đi các nơi học đạo, nay ngươi về đây nói xỏ nói xiên để chửi ta đó hở?

Thiền sư Thần Tán lễ phép thưa trình với sư phụ mình:

- Bạch sư phụ, nhờ ơn của sư phụ, cho con đi học đạo thiền các nơi. Con đến học đạo với tiên sư Bá Trượng, nay con đã giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”, mà Như Lai đã dạy cho chúng sinh ở cõi Ta bà này. Hôm nay về đây, con muốn đáp đền công ơn của sư phụ mà không biết phải làm sao, nên con mượn hình ảnh của con ong chui qua cửa sổ để đáp đền ơn đức của Đức Từ bi.

Nghe Thiền sư Thần Tán trình thưa như vậy, sư phụ Ngài liền triệu tập tất cả các đệ tử mình lại và yêu cầu Thiền sư Thần Tán, dạy chỗ chân thật của Thiền tông mà Đức Phật đã dạy nơi Thế giới này.

Thiền sư Thần Tán nói:

- Thiền tông chẳng kiếm chẳng tìm.

- Chẳng quán chẳng tưởng, nhận liền tánh Nghe.

- Tánh Nghe, tánh Thấy là bè.

- Đưa người Thanh tịnh về miền quê xưa.

- Tu thiền đừng chọn sớm trưa.

- Không ngồi, không đứng, không ưa Niết nàn.

- Bỏ đi những chuyện Thế gian.

- Tánh Thấy, không Thấy chỗ xưa Phật truyền.

- Lòng người bị đảo, nên điên!

- Chỉ cần “Thôi, Dứt” ở yên Niết bàn.

- Thiền chi khổ não gian nan.

- Dứt ngay tìm, kiếm Niết bàn nơi ta.

Vừa nghe 12 câu kệ lục bát của đệ tử mình xướng. Bất chợt, sư phụ Thiền sứ Thần Tán giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”, Ngài tự nhiên rơi nước mắt và thốt lên:

- Nhờ con, mà hôm nay ta đã giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”. Thật không uổng công ta cho con đi học đạo thiền. Hôm nay con đã giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”, tìm cách độ thầy, có lẽ phước báu của thầy đã tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp trước, nên hôm nay phước báu ấy đã tựu hội tại đây. Trước, thầy cám ơn Mười phương chư Phật. Sau, cám ơn con, đã biết cách “Khai thị” cho thầy giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”.

Sư phụ Thiền sư Thần Tán vừa nói vừa khóc. Lời chân thật ấy, làm các đệ tử Ngài ai ai cũng khóc theo. Trong số đó cũng có nhiều người giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”.

B- Phần thể xác:

- Người tu theo Nhà Phật: Bắt buộc phải hiểu nguyên lý vận hành của cơ thể con người bằng Vật lý m Dương. Vì vậy, khi người lớn tuổi, nếu là người Nam thì Dương bị suy, còn người Nữ thì m bị suy. Do đó, phải biết ăn uống làm sao cho cơ thể được quân bình thì ít sanh ra bệnh tật; còn không biết, thì bệnh tật dễ phát sinh.

Ví dụ: Người ăn chay thuần thúy, các món ăn phần nhiều là nghiêng về m. Người ăn chay không biết nguyên lý này, lúc nào cũng đưa vào cơ thể mình những món m, có khi còn cực m nữa thì bệnh tật làm sao tránh khỏi được?

Tôi đưa ra ví dụ rõ ràng như sau: Các món cực m là cà, dưa, giá, măng, nấm, chao. Sáu món ăn này là căn bản của người ăn chay. Đã cực m như vậy, mà khi ăn bữa cơm chay rồi, lại uống thêm ly nước đá Sâm bổ lượng nữa, thì làm sao cơ thể người tu chịu nổi. Vì vậy, chúng ta thấy người ăn chay mà hay đau yếu là do không biết ăn quân bình m Dương vậy.

Trưởng ban nói tiếp:

- Thông thường, người tu lớn tuổi họ có cái chấp như sau:

- Mình là sư phụ, sự hiểu biết của mình không ai bằng được.

- Những suy nghĩ, hiểu biết của mình là hơn hết.

- Lũ nhỏ phải quỳ lạy mình.

- V.v...

Vì các lý do nêu trên, nên thầy không khi nào nói cho sư phụ mình nghe được. Chi bằng, thầy phải dùng cái đầu khôn ngoan của mình để tìm cách làm sư phụ thầy thức tỉnh là hay hơn hết.

Thầy Thích Chí Hiếu, nghe Trưởng ban giải thích một loạt, hết sức vui mừng và cám ơn ông Trưởng ban. Những người có mặt cũng được hưởng phần kiến thức cao sâu Nhà Phật.

Trích QUYỂN 5 KHAI THỊ THIỀN TÔNG

Chân Không

Chân Không

1631623553

7 tư duy kiếm tiền của những người làm nên nghiệp lớn

1. "Thương đạo" là "nhân đạo", muốn làm kinh doanh, trước tiên hãy làm người

Con đường kinh doanh chính là con đường làm người, muốn làm kinh doanh, trước tiên, phải học cách làm người, đây là chìa khóa mấu chốt để dẫn đến thành công.

Trên thương trường, nhiều người hoặc là tầm thường hoặc là cuối cùng thất bại, không phải vì họ không đủ thông minh mà là vì cái đức của họ chưa đủ. Làm người là một môn nghệ thuật kì diệu, nếu đã là nghệ thuật, vậy thì bạn phải dùng tâm để hiểu, lĩnh ngộ và cảm nhận.

Những người biết cách làm người trước, rồi sau đó mới làm kinh doanh thì tài khí mới thịnh vượng, tiền vào như nước cũng chỉ là chuyện một sớm một chiều, trăng đến rằm thì trăng sẽ tròn. Còn phần lớn những kẻ làm người thất bại thì dù có "phất lên sau một đêm" thì kết cục cũng không tốt đẹp gì.

2. Không có phương pháp cố định để kinh doanh thành công, kinh doanh cần phải linh hoạt và thay đổi

Lý Gia Thành, tỷ phú Hồng Kông, người giàu thứ 23 trên thế giới có một quan điểm nổi tiếng rằng "thương giả vô vực", ông tin rằng không có cái gọi là quy luật bất biến trong kinh doanh, muốn làm doanh nghiệp bạn phải linh hoạt, nhanh nhẹn, biến hóa khôn lường và không được phép tuân thủ theo một lối suy nghĩ.

Thật vậy, thương trường luôn chứa đầy những thay đổi, thị trường cũng không phải lúc nào cũng đứng im. Muốn có một chỗ đứng nhất định trên thương trường, các sản phẩm của bạn có thể là "độc môn", nhưng tư duy thì luôn phải linh hoạt và phải có tính mới. Cái gọi là "một mánh mới, ăn cả trời" cũng là dựa trên chữ "mới" mà ra.

3. Trong giai đoạn khởi nghiệp, phải biết chịu khổ, làm được ông chủ thì cũng phải ngủ được sàn đất

Không có ai tự nhiên "phất" lên được cả, muốn làm lớn phải biết chịu đựng khó khăn và gian khổ. Cứ nhìn Nhậm Chính Phi, ông chủ của tập đoàn Huawei khuấy động mạng xã hội, khiến cả thế giới quan tâm trong vài tháng gần đây, hay đơn cử như ông Phạm Nhật Vượng, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Vingroup, bạn sẽ thấy tinh thần chăm chỉ, biết chịu cực quý giá đến đâu.

Tuy nhiên, giai đoạn khởi nghiệp vẫn là giai đoạn mà bạn cần phải có sức chịu đựng giỏi nhất, có gan làm ông chủ thì cũng phải ngủ được trên sàn đất, bạn thậm chí còn phải vất vả hơn cả nhân viên của mình.

Ngoài ra, cái gọi là khó khăn và sức chịu đựng còn có một ý nghĩa khác, đó là khi đối mặt với những thất bại và bất lợi, bạn không thể đổ lỗi cho người khác, thay vào đó luôn phải giữ cho mình một cái đầu lạnh, mỉm cười trước thất bại. Biết là khó, nhưng, đằng sau thất bại chính là suối nguồn của cải, muốn tắm trong đó, bạn sẽ phải trả một cái giá đắt hơn người khác.

4. Dám là người đầu tiên, không sợ không có tiền để kiếm tiền, chỉ sợ có tiền nhưng không dám kiếm

Có người nói "Mạnh dạn thì thành công mà rụt rè thì chết đói", cũng có người nói "Thành công trọng chi tiết, phú quý cầu mạo hiểm", bất kể kinh doanh hay khởi nghiệp, bạn phải táo bạo và dám mạo hiểm, dám chiến đấu, dám trở thành người đầu tiên. Miễn là có cơ hội kinh doanh có lợi nhuận, đừng từ bỏ nó vì bạn sợ mạo hiểm, bởi lẽ thương trường chính là nơi mà các nhà thám hiểm có thể tồn tại.

5. "Dĩ tốc vi bản", ai nhanh kẻ đó là vua, trong "nhanh" có vàng

Một bước đi trước, bước bước dẫn đầu, trong thời đại "cá lớn ăn cá nhỏ, cá nhanh ăn cá chậm" này, tốc độ đã trở thành một trong những quy tắc cơ bản quyết định độ lớn mạnh của doanh nghiệp.

Do đó, bất kể bắt đầu kinh doanh hay khởi nghiệp, bạn phải "bắt trend" nhanh hơn ai hết, nhanh chóng nắm bắt cơ hội kinh doanh, nhanh chóng tung ra sản phẩm và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ... Chỉ bằng cách này, bạn mới có thể bất khả chiến bại.

6. Giỏi nắm bắt cơ hội kinh doanh, nhận định tình hình, xem xét thời thế

Cơ hội kinh doanh luôn luôn có, nhưng đôi khi nó lại bị ẩn đi. Chỉ những doanh nhân có con mắt tinh tường, giỏi phán đoán tình huống và có những hành động thiết thực mới có thể nắm bắt và sử dụng cơ hội kinh doanh đồng thời kịp thời biến chúng thành lợi nhuận và sự giàu có, như Jack Ma nói: "Kinh doanh ngày càng khó làm, nhưng càng khó thì cơ hội càng cao, mấu chốt là ở tầm nhìn."

7. "Nhân mạch" là "Kim mạch", quan hệ xã hội là tài sản, trước tiên kết một mạng lưới quan hệ rồi sau đó xông pha thiên hạ

Ở xã hội này, quan hệ xã hội là một nguồn lực vô cùng có giá trị. Trong nhiều trường hợp, quan hệ xã hội chính là một nguồn tài chính, có thể được trực tiếp chuyển đổi thành sự giàu có. Bất kể bạn đang bắt đầu kinh doanh hay có ý định khởi nghiệp, việc kiếm tiền sẽ dễ dàng hơn bằng cách thiết lập một mạng lưới quan hệ, sau đó tìm kiếm, nắm bắt và sử dụng các cơ hội kinh doanh. Đây là một lý do tại sao những người lớn tuổi, quan hệ xã hội rộng lại có nhiều khả năng thành công hơn.

Nguồn: CafeF

Xem thêm: Tư Duy Nghịch - Cách Tư Duy Của Người Thành Công

Chân Không

Chân Không

1630592060

Kinh Duy Ma Cật: Những Điều Bạn Chưa Từng Được Nghe

Trong phẩm thứ 7 phẩm Quán chúng sinh xuất hiện một nhân vật là một THIÊN NỮ, vị này suốt 12 năm ở trong phòng của ngài DUY MA CẬT, đã đối đáp với vị đại đệ tử xuất sắc của Đức Phật là ông XÁ LỢI PHẤT.

  1. Thiên nữ rải hoa trên thân Bồ tát và các đại đệ tử; hoa đến thân Bồ tát thì rơi xuống, đến thân đại đệ tử thì dính trên thân, dùng thần lực phủi đi cũng không phủi được. Con xin Bác giải thích hiện tượng này ạ?
  2. Ngài Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ đắc pháp gì mà được 'biện tài vô ngại', Thiên nữ trả lời 'tôi vô chứng vô đắc nên biện tài, kẻ thấy có chứng có đắc gọi là tăng thượng mạn'. Con xin Bác giải thích câu này ạ❓
  3. Thiên nữ nói 'ở trong phòng của ngài Duy Ma Cật chỉ ngửi mùi hương của công đức Phật, không ưa ngửi mùi hương của công đức nhị thừa'. Con xin Bác giải thích về công đức Phật và công đức nhị thừa ạ❓
  4. Thiên nữ ở trong phòng của ngài Duy Ma Cật 12 năm, chỉ để nghe Phật pháp Bất khả tư nghì, con số này có ý nghĩa như thế nào ạ Bác❓
  5. Thiên nữ nói trong phòng của Cư sĩ Duy Ma Cật luôn có 8 pháp khó đắc chưa từng có, con chỉ xin phép hỏi về 3 trên 8 pháp này thưa bác, đó là:
    ❁ Thứ nhất ánh sáng màu vàng ngày đêm chiếu soi, thưa Bác ánh sáng đó là gì ạ?
    ❁ Có 4 kho tàng lớn hễ cầu là được, dạ thưa Bác là ngụ ý của Thiên nữ nói gì ạ?
    ❁ Cung điện của Chư Thiên và cõi Tịnh độ đều hiện trong phòng dạ thưa bác đây nghĩa là gì ạ❓
  6. 🔆 Ngài Xá lợi Phất hỏi thiên nữ rằng: 'Cô diệt ở nơi đây rồi cô sẽ sanh nơi nào'; Thiên nữ trả lời 'Phật biến hóa sở sanh tôi cũng theo đó mà sanh'. Dạ thưa Bác 'biến hóa sở sanh' nghĩa là gì ạ❓
  7. 🔆 Ngài Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ 'bao lâu nữa thì cô đắc vô thượng Bồ đề'; Thiên nữ trả lời 'khi ông trở lại là phàm phu thì tôi thành vô thượng Bồ đề'. Tại sao Thiên nữ lại nói ý nghĩa như vậy ạ❓
  8. 🔆 Ngài Duy Ma Cật nói với ông Xá Lợi Phất rằng: "Thiên nữ này đã đắc vô sanh pháp nhẫn". Tại sao một vị Thiên nữ lại có được khả năng này và sự kiện này ngụ ý cho điều gì ạ❓
     


#LongNu
#DuyMaCat
#BatKhaTuNghi
#QuanChungSanh
#CongDuc
#PhanThan
#VoCau
#NuocRong
#NuThanhPhat
#ThanhTinh
#ThienNu
#DaoPhatKhoaHocThienTong
#GiacNgoGiaiThoat
#ScienceOfZenBuddhism
#EnlightenmentLiberation
#ChuaThienTong
#TanDieu
#ZenPagoda
#ChuanHoaThienTong
#GiaiDapThienTong

Chân Không

Chân Không

1629908161

40 phần TUYỆT MẬT Đức Phật biệt truyền theo dòng Thiền Tông

Khi Đức Phật trao tập Huyền Ký cho Ngài Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông. Ông A Nan Đà có trình thưa hỏi Đức Phật:


- Kính bạch Đức Thế Tôn: Chúng con có các phần thắc mắc như sau, kính xin Đức Thế Tôn dạy chúng con:

Một: Lý do gì mà Tánh Phật chúng con lại vào thế giới loài Người mượn sắc thân con người?

Hai: Qui luật luân hồi nơi trái đất này như thế nào?

Ba: Kính xin Đức Thế Tôn dạy căn bản cho chúng con thoát ra ngoài qui luật luân hồi của trái đất để trở về Phật giới?

*Đức Phật dạy ông A Nan Đà và đại chúng 40 phần gọi là tuyệt mật mà Như Lai không dạy trong các kinh điển phổ thông:

Phần 1:

- Đầu tiên, Tánh Phật ở trong Phật giới, nhìn thấy những Kim Thân Phật sao quá lớn, còn những Tánh Phật tại sao quá nhỏ, nên có Tánh Phật tò mò hỏi Kim Thân Phật như sau:

- Thưa Kim Thân Phật: Tánh Phật của chúng tôi sao quá nhỏ, còn Kim Thân Phật của quí vị sao quá lớn như vậy, xin qúi vị cho chúng tôi biết?

Có Kim Thân Phật trả lời:

- Trước kia, Kim thân Phật của chúng tôi cũng nhỏ như là Tánh Phật vậy. Nếu Tánh Phật nào muốn lớn như Kim thân Phật, thì hãy vào Tam giới, đến thế giới loài Người, xin vào Dòng tộc loài Người, mượn sắc thân con người tạo công đức, khi công đức được nhiều, trở về Phật giới, số công đức này, được điện từ Quang trong Phật giới chiếu vào, số công đức này tự nhiên được định hình ra một Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh, Tánh Phật của quí vị ẩn vào trong Ngôi nhà đó, tức khắc một Kim thân Phật được sanh ra. Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh là để Kim thân Phật ở. Còn Ngôi nhà pháp thân thanh tịnh và Kim thân Phật lớn hay nhỏ, là tùy số công đức mà Tánh Phật tạo ra nơi Thế giới loài Người.

Phần 2:

 * Tánh Phật hỏi đường vào Thế giới loài Người:

 Khi Tánh Phật biết được nguyên do nói trên, nên Tánh Phật mới hỏi Kim Thân Phật:

- Chúng tôi muốn vào thế giới loài Người, mượn thân loài Người để tạo công đức, phải đi đường nào vào, xin Kim thân Phật chỉ cho chúng tôi?

* Kim thân Phật trả lời:

- Muốn vào thế giới loài Người, đầu tiên, Tánh Phật phải đến cửa Hải Triều Âm của Tam giới.

- Được cửa này hút Tánh Phật vào Trung tâm vận hành luân hồi.

- Tánh Phật lần theo Trung tâm luân hồi này, đến cửa Hải Triều Âm của Trái đất.

- Được cửa Hải Triều Âm của Trái đất hút vào.

- Tánh Phật được vào đây rồi, tìm đến Dòng tộc nào đó. Hỏi Trưởng ban Dòng tộc, xin Trưởng ban Dòng tộc cho Tánh Phật nhập vào một gia đình nào đó, và tự nguyện làm con của gia đình này, nhưng Kim thân Phật cũng nói cho Tánh Phật biết:

- Khi Tánh Phật đã vào Trung tâm vận hành của Tam giới rồi, thì không trở lại Phật giới được, mà phải đi theo ống dẫn vào trái đất, khi nào Tánh Phật mượn thân con người tạo được công đức thật nhiều rồi, mà muốn trở về Phật giới, thì phải vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới lại, trở về Phật giới bằng cửa Hải triều Dương Tam giới.

 Kim thân Phật cũng nói cho Tánh Phật biết:

 - Khi Tánh Phật mượn sắc thân con người rồi, thì Tánh Phật khó mà bỏ sắc thân con người được. Vì sao vậy? Vì Tánh Người được Tánh Phật làm sự sống, thì Tánh Người không khi nào chịu trả Tánh Phật về Phật giới.

 Tánh Phật trả lời:

- Chẳng lẽ Tánh Người có sức mạnh và khôn hơn Tánh Phật sao?

Kim thân Phật nói:


- Tánh Người không mạnh mà cũng không khôn hơn Tánh Phật, nhưng Tánh Phật khi đã mượn sắc thân con người rồi, Tánh Người không khi nào chịu từ bỏTánh Phật ra.


Tánh Phật lại nói:

- Thôi, Kim Thân Phật cứ chỉ cho Tánh Phật tôi đường vào thế giới loài Người, còn việc Tánh Phật và Tánh Người ai khôn ai dại, chúng tôi biết cách xử.
Thế là, Kim thân Phật chỉ cho Tánh Phật đường vào thế giới loài Người.

Phần 3:

Kim thân Phật chỉ Tánh Phật vào thế giới loài Người:

- Đầu tiên, Tánh Phật phải tìm đến cửa Hải Triều Âm Tam giới.

- Chui vào cửa này.

- Vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới.

- Theo ống dẫn vào trái đất.

- Đến dòng tộc.

- Xin Trưởng ban Dòng tộc cho nhập vào Dòng tộc.

- Xin làm con trong gia đình.

Thế là, Tánh Phật thực hiện đúng lời chỉ dẫn của Kim thân Phật, vào được trái đất và gặp được Trưởng ban Dòng tộc.

Phần 4:

* Tánh Phật xin làm con trong Gia đình:

- Khi Tánh Phật đến gặp Trưởng ban Dòng tộc, được Trưởng ban Dòng tộc đồng ý. Nhưng Trưởng ban Dòng tộc có nói với Tánh Phật 05 điều như sau, nếu Tánh Phật đồng ý, thì mới được vào làm con trong gia đình:

*Điều 1: Không được mượn thân con người tạo nghiệp phước Dương, để vãng sanh đến các cõi Trời hay nước Tinh Độ sinh sống hưởng phước an vui ở đây.

*Điều 2: Không được mượn thân người tạo nghiệp phước Âm, để làm Thần hay làm người giàu sang nơi trái đất này hoài.

*Điều 3: Không được mượn thân người, bày ra đủ chuyện để lường gạt người khác mà bị quả báo!

*Điều 4: Không được mượn thân người ở mãi trong dòng tộc mà không chịu tạo ra công đức để trở về Phật giới.

*Điều 5: Tánh Phật phải liên lạc về Phật giới, nhờ 1 Kim Thân Phật phân thân vào Dòng tộc chúng tôi chứng kiến lời cam kết của Tánh Phật, thì Tánh Phật mới được nhập vào Dòng tộc, vào gia đình mượn thân con người tạo công đức.

Phần 5:

Trưởng Dòng tộc nói xong, Tánh Phật liền liên lạc về Phật giới, nhờ 1 Kim Thân Phật, ứng thân vào thế giới loài Người, đến Dòng tộc chứng kiến lời cam kết của Tánh Phật.

Tánh Phật liền liên lạc về Phật giới, tức khắc có 1 Kim Thân Phật phân thân đến Dòng tộc và nói với Trưởng ban Dòng tộc như sau:

 - Tôi là 1 Kim Thân Phật, từ Phật giới phân thân đến đây, xin chứng kiến lời hứa của Tánh Phật này. Nếu Tánh Phật này, cứ ở mãi trong dòng tộc, hay ham mê sống trong nơi trái đất hay Tam giới này, mà không chịu tạo công đức để trở về Phật giới, thì Kim Thân Phật tôi sẽ phân thân đến nhắc nhở Tánh Phật này.

 Trưởng ban Dòng tộc được 1 Kim Thân Phật phân thân đến cam kết như vậy, nên Trưởng ban Dòng tộc cho Tánh Phật nhập vào Dòng tộc, rồi phân bổ vào gia đình để mượn thân con người tạo công đức.

Phần 6:

* Tánh Phật được vào gia đình mượn thân người để tạo công đức:

Tánh Phật được phân bổ vào gia đình, nên lúc nào cũng canh chừng khi Cha Mẹ giao hợp với nhau, mà Tinh Cha Noãn Mẹ vừa được điện từ Âm Dương cuốn hút, tạo thành lực hút Âm Dương, thì Tánh Phật phải chui ngay vào Tinh Cha Noãn Mẹ và ngủ yên trong đó.
Khi Tánh Phật đã ngủ yên trong tử cung của Mẹ đúng 9 tháng 10 ngày, Tánh Phật mới được Mẹ sanh ra thành 1 đứa trẻ, dần dần lớn lên trở thành con người hoàn chỉnh và tạo công đức.

Phần 7:

* Tánh Phật đâu biết rằng: Trong Tử cung của ngươi Mẹ mình là nơi có 3 công dụng:

Một: Nơi làm cho Tánh Phật quên hết những gì mà Tánh Phật: Thấy - Nghe - Nói và Biết trước kia.

Hai: Nơi tạo ra sắc thân của một con người.

Ba: Khi sắc thân con người hình thành, cũng là Tánh Người hình hành, để Tánh Phật mượn Tánh Người và Thân Người hoạt động.

Phần 8:
* Tánh Phật mượn thân người để tạo công đức, nhưng không nhớ!
Vì sao Tánh Phật không nhớ tạo công đức?
- Vì có 3 nguyên do:

1/- Vì Tánh Phật đã ngủ trong Tử cung của Mẹ quá lâu, nên quên hết những gỉ mà Tánh Phật đã Thấy và Biết trước kia!

2/- Tánh Phật đã vào sống trong qui luật luân hồi của trái đất, thì phải đi theo qui luật này, không cách nào làm khác được!

3/- Trong Tánh Người có đến 16 thứ; mà 3 thứ Tánh mạnh nhất là, Tưởng - Tham và Sợ. Tánh Phật bị 3 thứ này và 13 thứ nữa che khuất, nên Tánh Phật không còn Thấy - Nghe - Nói - Biết như trước kia nữa. Nói danh từ trong đạo của Như Lai gọi là: “Tánh Phật bị Vô Minh che khuất”!

Vì vậy, sự ham muốn của Tánh Phật ban đầu là tạo công đức, Tánh Phật không còn nhớ nữa, thì làm sao mà tạo công đức được.

- Hơn nữa, Tánh Phật bị Tánh Người bao phủ lại, thì làm sao Tánh Phật: Thấy - Nghe - Nói - Biết của Tánh Phật như trước kia, mà phải sống theo sự ham muốn của Tánh Người.

Phần 9:

* Tánh Người là thứ Tánh có 16 thứ:

- Thọ - Tưởng - Hành - Thức - Tài - Sắc - Danh - Thực - Thùy - Tham - Sân - Si - Mạn - Nghi - Ác - Kiến!

Vì vậy, Tánh Phật phải làm theo Tánh Người, chớ không cách nào khác. Nếu Tánh Phật chỉ có 1 niệm nhỏ muốn tạo công đức, thì Tánh Người sẽ nạt ngay!

Vì sao Tánh Người nạt Tánh Phật?

- Vì Tánh Người được Tánh Phật làm sự sống, thì Tánh Người không khi nào cho Tánh Phật tạo công đức. Nếu Tánh Phật tạo được công đức, thì Tánh Phật sẽ trở về Phật giới, thì Tánh Người phải trở về với hư không, nênTánh Người phải ôm chặt Tánh Phật hoài là vậy.

Phần 10:

* Trái đất là 6 loài sống chung, gồm:
1/- Loài Thần.
2/- Loài Người.
3/- Loài Ngạ Quỷ.
4/- Loài Súc Sanh.
5/- Loài Địa Ngục.
6/- Loài Thực Vật.

Phần 11:

* Nhiệm vụ 6 loài sống trên Trái đất này:

- Loài Thần có 3 nhiệm vụ chánh:

1/- Thần chủ Thế giới:
- Chuyên mượn Sắc thân con người nào thích linh thiêng huyền bí để lập ra Đạo.
- Để con người đem cái Tưởng - Tham và Sợ vào an trú, để con người an lòng là đã có nơi ở vững chắc không sợ sau khi chết!

2/- Thần chủ Quốc gia:
- Chuyên làm nhiệm vụ, tiếp truyền Đạo do Thần chủ Thế giới lập nên.

3/- Thần chủ Vùng Quốc gia:
- Chuyên ngự ở các Đình, chứng kiến lời thề của con người thề với nhau.

4/- Thần Bình thường ở mỗi Quốc gia:
Mỗi vị Thần Bình thường phụ trách một công việc, như:

* Thần Kim Cang:
- Chuyên giúp người nào muốn Giải thoát, do vị Phật ở trong Phật giới nhờ.

* Thần Phước Thiện:
- Chuyên giúp người nào bị oan trái, khiến người này đến cơ quan Pháp luật kêu oan, do vị Bồ Tát ở nước Tịnh Độ, sử dụng Thiên Nhãn thấy và nhờ.

* V.v…

Phần 12:

* Tu hành:
Tu Tiểu thừa: Cũng gọi là Nam truyền, hay Nam tông.

* Cách tu: Chuyên dụng công ngồi thiền quán 37 pháp:
1/- Quán Tưởng.
2/- Quán Nghi.
3/- Quán Diệt.
4/- Quán Sát.
5/- Quán Dẹp.
6/- Quán Vô.
7/- Quán Thoại.
8/- Quán Bất.
V.v…

* Mục đích của người tu:
- Thích làm Thiền sư, dạy người khác dụng công ngồi thiền được lâu.

Phần 13:

Tu Trung thừa: Gọi là Lý luận Bát Nhã, cũng gọi là Triết lý Phật Thích Ca.

* Cách tu: Chuyên học lý luận cho thật hay để nói cho người khác nghe, họ khen và cho tiền.

* Mục đích của người tu: Thích làm Giảng sư Phật học, để dạy người khác, kiếm tiền.

Phần 14:

Tu Đại thừa: Nghi, tìm hay kiếm trong vật chất.

* Cách tu: Chuyên suy tư và nghĩ tưởng hữu dụng của vật chất. Những người này gọi là, “Kỹ sư Phật học”.

* Mục đích của người tu: Cải thiện đời sống của con người, cũng để kiếm tiền.

Phần 15:

Tu Tịnh Độ tông: Định tâm bằng câu niệm Phật.

* Cách tu: Chuyên niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, và làm nghiệp phước thiện thật nhiều.

* Mục đích của người tu: Mong sau khi chết được vãng sanh đến nước Cực Lạc sinh sống và hưởng sung sướng trong cảnh thanh tịnh.

Phần 16A:

Tu Mật chú tông: Định tâm bằng câu thần chú, và cúng dường thật nhiều, để tạo nghiệp phước đức Âm.

* Cách tu: Chuyên niệm câu thần chú lấy trong các kinh. Muốn làm nghề gì, thì niệm câu thần chú kinh đó.

Ví dụ:
- Muốn làm thầy thuốc, thì niệm chú Dược sư.
- Muốn trừ Tà, thì nệm chú Thủ Lăng Nghiêm.
- Muốn cho thân mình được an vui, thì niệm chú Đại bi.
- V.v…

* Mục đích của người tu: Mong sau khi chết được làm Thần, để sử dụng thần thông.

Phần 16B:

Tu Thiền tông: Kiến tánh thành Phật.

* Cách tu: Hằng tri việc làm hằng ngày của mình, không chạy theo cảnh và biết tạo ra công đức.

* Mục đích của người tu: Để trở về Phật giới sau khi chết.

* Người tu Thiền tông phải hiểu 4 phần:
1/- Thân người mình là gì?
2/- Tánh người mình là sao?
3/- Mình tu sao được giải thoát?
4/- Mình tu sao còn bị luân hồi?

* Và phải tìm hiểu thêm 4 phần nữa:
1/- Sự sống và qui luật của trái đất này như thế nào?
2/- Tam giới ở đâu?
3/- Phật giới ở nơi nào?
4/- Càn khôn vũ trụ ra sao?

* Đời sống và làm việc của người tu Thiền tông phải biết 4 phần:
1/- Sống nghề gì, cứ làm nghề đó, làm bằng Tánh Người, phải tuân thủ luật nhân quả của trái đất.
2/- Không sử dụng tánh Phật làm việc ở trái đất này.
3/- Khi nào thuận duyên mới tạo công đức, không quá nhiệt tình.
4/- Không tranh luận với ai.

Phần 17:

Càn khôn vũ trụ:

* Không gian bao la trùm khắp không biên giới trong đó có chứa 2 phần:

1/- Phật giới, là nơi tánh Phật và chư Phật sống.

2/- Tam giới, là nơi loài Trời, loài Tiên, loài Người và môn loài sống.

Phần 18:

 Loài Người, có 6 nhiệm vụ:

- Một: Tạo ra nghiệp phước đức Dương, để vãng sanh đến các cõi Trời hay nước Tịnh Độ hưởng phước đức Dương.

- Hai: Tạo ra nghiệp phước đức Âm, để làm Thần hay người giàu sang ở trái đất này.

- Ba: Tạo ra nghiệp Ác đức, để làm các loài Súc Sanh, làm loài Địa Ngục, hoặc làm Thực vật.

- Bốn: Không tạo ra các nghiệp phước Dương, hay phước Âm, mà muốn ở mãi trong dòng tộc.

- Năm: Tạo ra công đức, để trở về Phật giới.

- Sáu: Tạo ra Trung ấm thân, để chuyên chở 5 phần nói trên đi hưởng nghiệp phước đức Dương ở các cõi Trời hay nước Tịnh Độ. Nghiệp phước đức Âm. Nghiệp ở trong dòng tộc. Trả nghiệp xấu. Hoặc chuyên chở vỏ bọc tánh Phật có chứa công đức trở về Phật giới.

Phần 19:

 Loài Ngạ Quỷ, có 1 nhiệm vụ:

* Giành giựt của người khác.

Phần 20:

Loài Súc sanh, có 2 nhiệm vụ:

- Một là, trả nhân quả khi còn làm con người mà ham sát hại sinh vật.

- Hai là, làm thức ăn cho loài Người và các loài khác.

Phần 21:

Loài Địa ngục, có 1 nhiệm vụ:

* Trả nhân quả khi còn mang thân người mà gây trọng tội.

Phần 22:

Loài Thực vật, có 2 nhiệm vụ:

- Một: Trả nhân quả khi còn làm con người mà đi lường gạt người khác về giải thoát.

- Hai: Làm thức ăn cho loài Người và các loài khác.

Phần 23:

 Cấu tạo của trái đất:

- Trái đất cấu tạo bằng 5 thứ: Đất - Nước - Không khí - Lửa - Điện từ Âm Dương.

Phần 24:

 Nhiệm vụ của đất:

 - Làm mặt bằng sống của loài Người, muôn loài động vật và muôn loài Thực vật.

- Luân chuyển để tạo ra sức hút vật lý sanh ra nhân quả luân hồi.

- Nơi chứa 6 loài có sự sống: Thần, Người, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, và Thực vật.

Phần 25:

 Tổ chức 1 Tam giới:

* Tam là ba. Giới là giới hạn, hay ranh giới. Nó ở đâu?

- Nó là 1 cụm thật nhỏ trong Càn khôn vũ trụ. Nếu ví như có hình thể trong Càn khôn vũ trụ, thì Tam giới còn nhỏ hơn một hạt cát trong trái đất này nữa.

- Trong 1 tam giới có 1 mặt trời, có 45 hành tinh có sự sống, có Hằng hà sa số hành tinh cấu tạo bằng: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ - Điện từ Âm + Điện từ Dương.

- Có 4 vòng Hoàng Đạo và 1 vòng bảo vệ Tam giới, chia ra như sau:

 1/- Một mặt trời ở trung tâm: Liên tục cháy phát ra hơi nóng và ánh sáng để sưởi ấm và làm ánh sáng cho 45 hành tinh bao xung quanh 4 vòng Hoàng đạo.

 2/- Vòng Hoàng đạo 1: Gồm có 6 hành tinh cấu tạo bằng tứ đại và điện từ Âm + Dương không màu sắc, là nơi loài người, 4 loài khác, và loài thực vật sống chung.

 3/- Vòng Hoàng đạo 2: Gồm có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 5 màu sắc rất đậm, là nơi các loài Trời sống.

 4/- Vòng Hoàng đạo 3: Gồm có 17 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 12 màu sắc rực rỡ, chia ra làm 2 nơi:

 - Nơi 1: Có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 12 màu sắc rực rỡ và lung linh, là nơi các loài Trời sinh sống.

 - Nơi 2: Có 6 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương có 12 màu sắc rực rỡ, nhưng rất thanh tịnh, là nơi các loài Tiên sinh sống.

 5/- Vòng Hoàng đạo 4: Gồm có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm + Dương không màu sắc, là nơi các loài Trời sinh sống hưởng nghiệp phước đức thanh tịnh.

 6/- Vòng Hoàng đạo 5: Không có hành tinh, mà chỉ có 2 vòng điện từ Âm + Dương, chia ra làm 3 phần công dụng:

 - Công dụng 1 là điện từ Âm: Chuyên hút cứng các hành tinh trong Tam giới, để nén cứng lại, không cho thoát ra ngoài Tam giới.

 - Công dụng 2 là điện từ Dương: Chuyên đẩy các Tam giới xung quanh, không cho các Tam giới va chạm với nhau.

 - Công dụng 3 là làm sức nén: Để tạo lực nén cứng trong 1 Tam giới, để các hành tinh có sự sống, cũng như hành tinh làm vật tư, xoay vòng được và bay lơ lửng trong không gian của một Tam giới.

Phần 26:

Tổ chức Phật giới:

- Trong Phật giới gồm có 3 phần:

- Một là, không gian bao la trùm khắp theo Càn khôn vũ trụ, vũ trụ có đến đâu, thì Phật giới có đến đó. Trong Phật giới cấu tạo bằng điện từ Quang; điện từ Quang này là làm sự sống cho tánh Phật, chư Phật, Trời, Tiên, Thần, Người và muôn loài trong các Tam giới.

- Hai là, nơi sống Hằng hà sa số của tánh Phật.

- Ba là, nơi sống Hằng hà sa số của chư Phật.

Phần 27:

Giác ngộ là gì?

* Là hiểu biết căn bản có 7 phần:

- Một: Biết Càn khôn vũ trụ là gì.

- Hai: Biết Phật giới ở đâu.

- Ba: Biết công dụng của Tam giới ra sao?

- Bốn: Biết được qui luật luân hồi của trái đất.

- Năm: Biết được tánh Phật, tánh con người và tánh muôn loài.

- Sáu: Biết được công thức thoát ra ngoài qui luật luân hồi của trái đất.

- Bảy: Biết được người nào giúp đỡ hay lường gạt mình.

Phần 28:

 Luân hồi?

 1/- Luân là quay chuyển.

 2/- Hồi là trở lại chỗ cũ.

 A- Như tánh Phật: Đầu tiên ở trong Phật giới, ham muốn vào trái đất, mượn thân con người để tạo công đức trở về Phật giới định hình ra 1 Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và 1 Kim thân Phật, nhưng vì vào thế giới loài Người, ham mê đủ chuyện nên luân chuyển đi khắp nơi trong trái đất và Tam giới, sau cùng rồi cũng Hồi về Phật giới.

 B- Như trái đất: Đầu tiên ở điểm A, bị sức hút của điện từ Âm Dương, hút luân chuyển đi một vòng 365 ngày, sau cùng rồi cũng Hồi về điểm A.

 C- Như con người: Đầu tiên là con người, ham muốn đủ chuyện trên đời, nên luân chuyển đi các nơi trong Tam giới, sau cùng rồi cũng Hồi trở lại làm thân con người.

Phần 29:

 Tu sao được giải thoát?

 Người muốn giải thoát, không tu gì cả, mà chỉ cần biết 3 phần như sau:

 1/- Nơi trái đất này lúc nào cũng luân chuyển, nếu ai dụng công tu hành là dính theo qui luật luân chuyển của trái đất, gọi là luân hồi.

 2/- Cuộc sống hằng ngày như thế nào, cứ như thế mà làm, tức sống thuận theo qui luật nhân quả luân hồi của trái đất.

 3/- Khi thuận tiện mới tạo ra công đức một cách bình thường, nhưng phải có chọn lọc.

 4/- Khi hết duyên sống nơi thế giới này, nếu muốn về Phật giới, thì được tự tại trở về.



Phần 30:

 Ở trái đất này cúng cho ai ăn?

 * Như Lai dạy cho các ông biết: Nơi trái đất này có 5 loài sống chung, gồm:

 1/- Loài Thần.

 2/- Loài Người.

 3/- Loài Ngạ quỷ.

 4/- Loài Súc sanh.

 5/- Loài Địa ngục.

 Do đó, người tổ chức cúng thì tuần tự 5 loài ăn như sau:

 1/- Loài Thần ăn, khi thức ăn còn thật nóng.

 2/- Loài Ngạ quỷ ăn, khi thức ăn đã nguội bớt.

 3/- Người tổ chức cúng ăn, khi thức ăn đã nguội ngắt.

 4/- Loài Súc sanh ăn, khi thức ăn con người ăn còn thừa đổ đi.

 5/- Loài Địa ngục ăn, khi loài Người và Súc sanh thải ra.

Phần 31:

 Ở trái đất này cúng nơi nào là phải?

* Cúng cho Thần ăn ở các nơi như sau:

1/- Cúng trong chùa nào có thỉnh Thần nhập tượng, để chùa có linh thiêng, phải cúng để trả lễ Thần.

2/- Đình, là nơi Thần ngự, để chứng kiến lời thề của con người, phải cúng để trả lễ Thần.

Phần 32:

 * Cúng cho Cô Hồn ăn ở các nơi như sau:

- Cúng ở nơi Miếu hay Miểu, để Cô Hồn ăn.

- Vì các nơi này, người có lòng thương Cô Hồn, nên họ lập ra để Cô Hồn ở. Vì vậy, người lập ra Miểu này, phải cúng để cho Cô Hồn ăn, mới gọi là thương Cô Hồn trọn vẹn.

Phần 33:

 Trung ấm thân là gì, có nhiệm vụ ra sao?

* Trung ấm thân là phương tiện chuyên chở tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương, khối nghiệp phước đức Âm, hoặc khối công đức mà tánh Phật sử dụng thân Người tạo ra.

*Trung ấm thân này có tất cả là 10 loại:

1/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người có tạo ra công đức ham muốn trở về Phật giới, để có 1 Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và 1 Kim thân Phật.

2/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến cõi trời Vô Sắc hưởng nghiệp phước đức Dương, nhưng rất thanh tịnh.

3/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến cõi trời Hữu Sắc, hưởng nghiệp phước đức Dương, nhưng rất vui tươi.

4/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến nước Cực Lạc, hưởng nghiệp phước đức Dương vui tươi, nhưng trong cảnh thanh tịnh.

5/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn tạo nghiệp phước đức Dương, để đến cõi trời Dục Giới hưởng nghiệp phước đức Dương, nhưng thật mạnh.

6/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn có thần thông để làm loài Thần, sử dụng thần thông cho loài Người kính nể.

7/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham muốn ở mãi trong dòng tộc.

8/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham tạo nghiệp sát, để vào làm loài Súc sanh.

9/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người ham gây trọng tội, để vào các tầng Địa ngục sống.

10/- Trung ấm thân, chở tánh Phật, mượn thân con người đóng vai trò Thầy này, Giáo sư nọ, không biết Giác ngộ là giác gì, Giải thoát là sao, đi lường gạt người khác để kiếm Danh và Lợi, mà bị phạm vào Nhân quả, làm loài Thực vật.

Phần 34:

 Tại sao tu Thiền tông không được dụng công?

* Là có nguyên do như sau:

1/- Ở thế giới luân chuyển do điện từ Âm Dương cuốn hút và kéo đi nên sanh ra Nhân quả.

2/- Vì nguyên lý này, mà người tu Thiền tông không dụng công, nếu dụng công là tự tạo nghiệp. Tạo nghiệp, thì phải bị nghiệp dẫn đi luân hồi!

Phần 35:

 Phật ở đâu và làm sao giúp người giải thoát?

* Phật thì phải ở Phật giới, không đến thế giới này được.

- Chỉ sử dụng Phật nhãn để nhìn thấy người nào muốn trở về Phật giới, thì vị Phật nhờ vị Thần Kim Cang khiến người này đến nơi phổ biến pháp môn Thiền tông, học công thức để trở về Phật giới.

Phần 36:

Bồ Tát ở đâu trong Tam giới này và làm sao cứu khổ con người?

* Bồ Tát ở nước Tịnh Độ, sử dụng Thiên nhãn quan sát ở cõi Nam Diêm Phù Đề này:

- Thấy người nào bị oan trái mà muốn kêu oan, thì Bồ Tát nhờ vị Thần Phước thiện, khiến người này đến cơ quan pháp luật nước sở tại kêu oan.

Phần 37:

 A La Hán ở đâu trong Tam giới này và làm gì?

* A La Hán, là người thích tu đạt được tứ quả Thinh văn, nên dính cứng vào quả vị này.

Quả vị này từ đâu mà có?

- Là do các vị Thần tạo ra ảo ảnh quả này, theo sự ham muốn của người dụng công tu tứ quả Thinh văn.

- Tứ quả Thinh văn này, là cái ảo ảnh của Thần tạo ra, nên không thật.

- Mà người dụng công tu đạt Tứ quả Thinh văn họ lại rất thích, nên họ dính cứng vào đây, nên không giải thoát được.


Như Lai dạy cho các ông biết:

- Quả vị Thanh tịnh mà các vị A La Hán trụ vào đó, đó là Niết bàn Hóa thành, tức là cái Niết bàn tạo ra bằng cái bóng ảo của điện từ Âm Dương, do các vị Thần tạo ra, do sự ham muốn của những vị A La Hán ham muốn.
Như Lai cũng nói cho các ông rõ:

- Khi người dụng công tu hành cho thân được thanh tịnh.

- Cho tâm duyên hợp vật lý thấy, biết được quá khứ vị lại.

- Nếu người tu không dụng công nữa, thì vị Thần không tạo được cái bóng ảo, tức khắc Niết bàn tự nhiên biến mất.

Như Lai dạy cho các ông biết:

1/- Không có công đức, nên không về Phật giới được.

2/- Không có phước đức, nên không đến các cõi Trời hay nước Tịnh Độ hưởng phước đức Dương được.

3/- Người tu chứng được quả A La Hán, không ở trong Dòng tộc được. Vì sao vậy? Vì trong dòng tộc của loài Người, không chứa người thần thông.

4/- Vì vậy, người tu hành chứng quả A La Hán, khi hết duyên sống làm người, phải xin vào ở nhờ nơi thế giới loài Thần.

Phần 38:

 Tánh Phật là gì?

* Tánh là cái vỏ bọc cấu tạo bằng điện từ Quang.

1/- Trong tánh có cái Ý.

2/- Trong Ý có 4 thứ: Thấy, Nghe, Nói và Biết.

3/- Phật là trùm khắp theo Càn khôn vũ trụ.

4/- Nên gọi là tánh Phật.

Phần 39:

 Hình thành tánh người ra sao và tan rã tánh người như thế nào?

* Hình thành 1 tánh người có 8 yếu tố:

1/- Ham muốn của Tánh Phật mượn thân con người để tạo công đức.

2/- Tánh Phật.

3/- Tinh Cha Noãn Mẹ.

4/- Điện từ Âm Dương cuốn hút.

5/- Tử cung của Mẹ.

6/- Ngủ trong tử cung của Mẹ.

7/- Thời gian 9 tháng 10 ngày.

8/- Mẹ đẻ ra thân người, Tánh Người được hình thành.

* Tánh người được tan rã ra chỉ có 4 yếu tố:

1/- Tánh Phật phải ham muốn trở về Phật giới.

2/- Tánh Phật phải nhớ lại các tánh: Thấy - Nghe - Nói - Biết Tánh Phật của chính mình, gọi chung là Kiến Tánh.

3/- Nhờ Kiến Tánh này mà Tánh Phật mới điều khiển được Tánh Người tạo công đức.

4/- Công đức được đầy đủ, Tánh Phật điều khiển vỏ bọc Tánh Người biến thành là Trung Ấm Thân siêu nhanh và nhẹ. Làm phương tiện chuyên chở Tánh Phật và khối công đức vượt cửa Hải Triều Dương của trái đất, vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới. Khi vào được Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới rồi. Trung Ấm thân này vào Trung tâm vận hành luân hồi của Tam giới, không còn bị sức hút vật lý điện từ Âm Dương nữa, nên Trung Ấm thân phải tan rã ra trở về hòa chung với điện từ Âm Dương. Tánh Người liền bị mất.

* Tánh Phật và khối công đức được tự tại vượt cửa Hải Triều Dương để trở về Phật giới.

Phần 40:

 Trung ấm thân đưa tánh Phật luân hồi như thế nào và trở về Phật giới ra sao?

* Trung ấm thân là phương tiện chuyên chở để đưa tánh Phật mượn thân tứ đại của con người tạo nghiệp hoặc tạo công đức để đưa đi luân hồi hoặc trở về Phật giới:

Trung ấm thân có tất cả là 10 loại:

1/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối công đức về Phật giới:
* Trung ấm thân này có màu vàng sáng ánh, di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 5 lần tốc độ ánh sáng.

2/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến cõi trời Vô sắc, để hưởng nghiệp phước đức thanh tịnh:
* Trung ấm thân này có màu trong như pha lê. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 3 lần tốc độ ánh sáng.

3/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến cõi trời Hữu sắc, để hưởng nghiệp phước vui tươi rực rỡ và lung linh:
* Trung ấm thân này có 12 màu sắc rực rỡ. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 2 lần tốc độ ánh sáng.

4/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến nước Tịnh Độ, để hưởng nghiệp phước đức vui, nhưng trong không gian thanh tịnh:
* Trung ấm thân này cũng có 12 màu sắc rất đẹp. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ cũng gấp 2 lần tốc độ ánh sáng.

5/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Dương đến cõi trời Dục giới, để hưởng nghiệp phước đức có cảm giác rất mạnh:
* Trung ấm thân này chỉ có 5 màu sắc, không đẹp lắm. Di chuyển rất nhanh, đi với tốc độ gấp 1 lần tốc độ ánh sáng.

6/- Trung ấm thân đưa tánh Phật và khối nghiệp phước đức Âm, vào cõi Thần, để làm nhiệm vụ của vị Thần. Loài Thần có nhiều loại và nhiều nhiệm vụ, như:


- Một: Cao nhất là Thần chủ Thế giới:
* Vị Thần này có nhiệm vụ lập ra đạo lớn.
- Để cho loài người sống nơi trái đất này, đưa cái Tưởng, Tham và Sợ của Tánh Người vào an trú và tu hành, để họ yên lòng sau khi chết.

- Hai: Cao thứ hai là Thần chủ Quốc gia:
* Vị Thần này có nhiệm vụ là tiếp đạo lớn do Thần chủ Thế giới lập ra, để người trong quốc gia của họ, ai thích tu, có đạo tu, để người tu này yên lòng sau khi chết.

- Ba: Cao thứ ba là Thần chủ Vùng của quốc gia.
* Vị Thần này có nhiệm vụ là làm ra hiện tượng lạ, để nhân dân trong vùng lập ra Đình.
* Để nhân dân trong vùng quốc gia đó, họ tin là có Thần linh, lập ra Đình, để nhân dân trong vùng đó, đến lễ lạy cầu xin và thề thốt với nhau một điều gì đó.

- Bốn: Thứ tư là Thần bình thường.
* Mỗi vị Thần bình thường này phụ trách một công việc, như sau:

* Thần Kim Cang:
- Thì giúp người nào muốn tu Giải thoát.
- Được vị Phật bên Phật giới, sử dụng Phật nhãn thấy, biết được, có yêu cầu, thì vị Thần Kim Cang này mới giúp bằng cách là, khiến người này đến nơi phổ biến pháp môn Giải thoát học công thức.

* Thần Phước thiện:
- Giúp đỡ người nào ở trái đất này bị oan trái, mà muốn kêu oan, với điều kiện là.
- Vị Bồ Tát ở nước Tịnh Độ, sử dụng Thiên nhãn thấy được nếu có yêu cầu thì vị Thần Phước thiện này mới giúp bằng cách là, hướng dẫn người này hay gia đình họ, đến cơ quan phụ trách pháp luật của nước sở tại kêu oan.

* Nói tóm lại:
- Mỗi vị Thần bình thường, phụ trách một công việc.

7/- Trung ấm thân, đưa tánh Phật mượn tánh người, mà không thích đi hưởng phước hay làm ác, ở mãi trong dòng tộc:
- Trung ấm thân này chỉ có 1 màu trắng đậm hay lợt.

8/- Trung ấm thân, đưa tánh Phật mượn thân người, để sát hại loài Súc sanh. Sát hại loài nào, thì trả nhân quả loài đó.
- Trung ấm thân này, có màu sắc giống như loài nào mà tánh Phật mượn thân người sát hại loài vật đó.

9/- Trung ấm thân, đưa tánh Phật mượn thân người, gây trọng tội, đưa vào 1 trong 18 tầng Địa ngục mà tánh Phật mượn thân con người gây ra:
- Trung ấm thân này có màu đen, từ đen nhạt đến thật đen.

10/- Trung ấm thân đưa tánh Phật, mượn thân người, đóng vai trò là vị nào đó, lường gạt người ngu khờ, lấy tiền của họ. Tùy theo lường gạt lấy tiền của họ ít hay nhiều mà làm các loài thực vật khác nhau.

* Lường gạt bằng cách nào?
- Bằng cách là.
* Mình không biết Giác ngộ là gì:
- Mà nói mình biết, dụ người ham muốn Giác ngộ đến nghe, mà họ không chịu suy nghĩ lời nói của mình coi có đúng hay sai mà tin đại, họ cúng tiền cho mình, tức mình là kẻ lường gạt.

* Mình không biết Giải thoát là gì:
- Mà nói mình biết, dụ người ham muốn Giải thoát đến nghe, mà họ không chịu suy nghĩ lời nói của mình coi có đúng hay sai mà tin đại, họ cúng tiền cho mình, tức mình cũng là kẻ đại lường gạt.
Trung ấm thân này có rất nhiều màu, tùy theo loài thực vật nào mà người lường gạt này nhận quả báo.
Trên đây là qui luật luân hồi của trái đất, chúng tôi là những người có được tập Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông, mà Thiền sư ni Đức Thảo đã trao lại cho chúng tôi.

Chúng tôi có lời khuyên như sau:

- Tập Huyên Ký này đã trải qua 2.562 năm rồi, có rất nhiều Nhà dịch lại không biết có đúng bản gốc hay không. Vì vậy, độc giả nào đọc, hãy suy xét cho thật kỹ, đừng tin liền, thấy đúng mới tin, còn không đúng thì xin đừng tin.

Sau cùng, Như Lai dạy về người khôn và dại:

*Người khôn:
- Nghe người khác nói gì, biết suy xét cho thật kỹ, đúng thì mới tin: Đó là người khôn.

* Người dại:
- Nghe người khác nói cái gì cũng tin, không suy nghĩ: Đó là người dại!
- Người đã dại, mà còn rủ thêm nhiều người khác cùng dại như mình nữa, người này là người ngốc!
- Mình đã Ngốc rồi, mà còn cố chấp nữa, mình là người đại ngốc và cuồng tín vậy!

Đạo Phật Khoa Học Thiền Tông, giúp cho nhân loại Giác Ngộ và Giải Thoát để trở về Phật Giới, thoát khỏi Sinh tử Luân hồi.
  Pháp môn Thiền Tông này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã bí mật truyền riêng ngoài kinh điển vật lý thông thường và nhờ 36 vị Tổ Sư Thiền Tông Ấn Độ - Trung Hoa - Việt Nam truyền đi.
  Người nhận được và hiểu được pháp môn này thì thật là Đại Phúc - Đại Duyên, lợi ích không thể nghĩ bàn !
* Qúy vị quan tâm thêm thì tham khảo trang Youtube của Chùa Thiền Tông Tân Diệu
- https://www.youtube.com/channel/UCQ_cpfgtrJ7y7ndGu0BzHiw 
- Website : https://www.thientong.com 
- Email: [email protected]
- Địa chỉ: 273 ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Việt Nam

Nghe toàn bộ sách Thiền Tông
https://www.youtube.com/watch?v=zNIdnGXs3uk&list=PLOtXQ1m0FkHDSk5nM15Oz5f8qSUBwEXGX 

#thientong #giacngo #giaithoat #giaidapthientong #chankhong