Chân Không

Chân Không

1630488181

Phân tích kỹ và ứng dụng 6 pháp môn tu của Đạo Phật

THỨ NHẤT: NGUYÊN THỦY, TỨC TIỂU THỪA, HAY NAM TRUYỀN

- Vì đầu tiên nên gọi là Nguyên thủy.

- Ngồi tu trong phòng nhỏ hẹp, gọi là Tiểu thừa.

- Các Thầy đem về miền Nam nước Ấn Độ truyền bá nên gọi là Nam truyền.

Pháp này, người tu sử dụng Thân, Tâm duyên hợp của Tứ đại, dụng công Quán, Tưởng vật nhỏ ra lớn hay trùm khắp phòng.

Ví dụ: Để tô nước, hay cây đèn đang cháy, hoặc cây nhang đang cháy đỏ để trước mặt. Người tu ngồi kiết dà điều thân cho vững vàng, kế đến hít 3 hơi thở cho mạnh, cho không khí vào khắp châu thân, thông các huyệt đạo, nhìn thẳng vào tô nước hay ánh đèn hoặc cây nhang đang cháy. Kế đến, kiềm cho Tâm Vật lý được thanh tịnh, khi Tâm thật sự được thanh tịnh rồi, liền Quán nước trong tô, hay ánh đèn, hoặc đóm lửa của cây nhang. Khi nào một trong các thứ trên tự nhiên như có “sự sống”:

- Nước thì như sôi lên. Ánh sáng của cây đèn hay cây nhang tăng ánh sáng lên. Người tu dụng công: Tưởng cho loan ra đầy khắp cả phòng. Khi loan ra đầy khắp cả phòng là thành công!

- Mục đích tu Thiền Quán này là muốn có Thần thông để đi khoe với bạn hữu hay người xung quanh là mình tu đã có “Thần thông”.

- Phần nhiều người tu pháp môn tu Quán, Tưởng này đi làm thầy Ảo thuật để đi kiếm tiền.

-Pháp môn này, 25 vị Thánh trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có vị áp dụng tu được thành công và trình với Đức Phật.

Pháp môn Quán, Tưởng này, có diệu dụng và kỳ đặc quá, nên quí Thầy đem về miền Nam nước Ấn Độ truyền bá. Lần lượt truyền sang các nước như: Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Lào, Camphuchia và một phần miền Nam Việt Nam để dạy. Do đó, hiện nay các nơi này triệt để tu theo pháp môn Thiền Quán và Tưởng này.

THỨ HAI: TRUNG THỪA

Phân tích pháp môn tu thứ hai gọi là Trung thừa:

- Mười lăm năm đầu, Đức Phật dạy tu pháp môn Nguyên thủy xong rồi. Mười lăm năm kế tiếp: Ngài dạy pháp môn “Lý luận”.

- Pháp môn này người vào tu cũng áp dụng như pháp môn thứ nhất. Khi người tu kiềm cho Tâm Vọng tưởng của mình được thanh tịnh rồi, tự nhiên trong Tâm Vọng tưởng tuôn ra những vầng văn, thơ hay kệ tuyệt hay. Người tu liền nắm lấy cơ hội này viết ra những lời văn, thơ hay kệ ấy. Do vậy, mới có những án văn tuyệt tác được.

Vì sao có những vầng văn thơ tuyệt tác như vậy?

- Vì cái “Tưởng” của Tánh người nó có công dụng như vậy. Cũng vì công dụng của cái Tưởng này mà nó dẫn con người đi chu du khắp trong Tam giới, đến nơi nào Tánh người ham thích.

Đức Phật gọi pháp môn này là “Triết lý Phật Thích Ca”. Vị nào tu hành thành công được như vậy, đi nói chuyện cho người khác nghe, người nghe họ rất thích nên được nhiều người tán thưởng cho nhiều tiền.

Chúng tôi xin nhắc lại:

Thi hào Nguyễn Du là một vị tu Thiền của đạo Phật, ông cũng áp dụng pháp môn tu Trung thừa này. Khi đi thăm Trung Quốc về, ông biết bên Trung Quốc có gia đình họ Dương Thúy Kiều có hoàn cảnh của “Một kiếp phù sinh như trong Nhà Phật đã dạy”, nên ông về Việt Nam biên soạn và viết ra tập “Truyện Kiều”.

Mỗi lần cầm bút viết thơ, ông dụng công cho Tâm Vật lý của ông được thanh tịnh, liền cảnh gia đình Dương Thúy Kiều hiện ra, ông liền sử dụng cái Tưởng trong Tánh người của ông, cho dòng văn thơ chảy ra, thế là ông cứ tự nhiên viết, ông càng viết văn thơ càng đổ ra. Do vậy, Truyện Kiều của ông được xem là có một không hai tại Việt Nam và cũng có thể là trên Thế giới nữa, nhờ ông biết áp dụng pháp môn tu Trung thừa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy vậy.

Ông Nguyễn Du thấy pháp môn thiền Trung thừa của Đức Phật dạy quá tuyệt, không sử dụng ngôn từ gì của Thế giới này mà nói lên được chỗ quá đẹp đó, nên ông tự đặt chỗ đó là “Tố Như”, tức cái đẹp Chân Như, Như vậy thôi, không gì của Thế gian này mà so sánh được.

Còn hiện nay, mục đích người tu theo pháp môn này, phần nhiều đi làm Giảng sư, lý luận cho mọi người khen ngợi. Nhờ vậy, đời sống của họ rất sung túc, chớ về căn bản giải thoát họ không biết được!

Vì sao không biết được?

- Vì những vị tu theo pháp môn này họ say mê đem Triết lý của mình ra để nói lại cho người khác nghe. Vì say mê nói chuyện với mọi người, nên họ bị dính mắc vào pháp môn này nên không giải thoát được.

Pháp môn này nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.

THỨ BA: ĐẠI THỪA

Pháp môn Đại thừa Đức Phật dạy như sau:

- Sử dụng Thân và Tâm duyên hợp của Vật lý ngồi Thiền: Nghi và Tìm hay Kiếm trong vật chất. Xem trong vật chất hữu dụng cho loài Người như thế nào, hay làm hại loài Người ra sao.

- Người tu pháp môn này công thức như pháp môn thứ nhất. Khi thành công biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ như là Vi trần, ngày nay gọi là Nguyên tử hoặc lớn như là Hành tinh. Vì Tìm biết được lớn lao như vậy nên gọi là Đại thừa.

Nhờ pháp môn này, Đức Phật thấy và biết trong Càn khôn Vũ trụ có:

  1. • Thái Dương hệ.
  2. • Tiểu thiên Thế giới.
  3. • Trung thiên Thế giới.
  4. • Đại thiên Thế giới.
  5. • Lực hút Âm Dương.
  6. • Chuyển biến của dòng luân hồi.
  7. • Vũ trụ không biên giới.
  8. • Sự sống loài Người.
  9. • Sự sống trong 1 Tam giới.
  10. • Công thức vượt ra ngoài sinh tử luân hồi.

V.v...

Mắt thường của chúng ta không thấy trong hư không có hình ảnh, nhưng mắt của Đức Phật thì Ngài thấy được.

Cũng nhờ pháp môn này mà các Nhà Khoa học họ tìm ra được:

• Nguồn điện.

• Lực đẩy động cơ, để rồi chế tạo ra:

A- Phi thuyền.

B- Phi cơ.

C- Tàu thủy.

D- Các loại xe.

E- Và rất nhiều vật dụng hữu ích cho loài người, V.v...

Vì Vật lý có 2 chiều đối đãi với nhau, nên các Nhà Vật lý học họ biết nguyên nhân sanh ra Vũ trụ, luân chuyển của vạn vật, biết phản ứng hóa học của vật chất. Vì vậy, các Nhà Vật lý học họ chế ra những vũ khí giết người hằng loạt, và họ cũng có thể phá tan hành tinh này rất dễ dàng!

Cũng nhờ pháp môn này, nên các vị có học vấn cao hiện nay, họ không tin những chuyện vớ vẩn mà những người xưa có đầu óc phong phú tưởng tượng nói ra.

Mục đích chánh của người tưởng tượng:

  1. Trước, để thống trị người ngu khờ.
  2. Sau, họ được ăn trên ngồi trước mà không phải đi lao động vất vả!

Nói tóm lại, pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ tìm được sự thật bên trong vật chất, nên những thứ ẩn sâu trong vạn vật họ tìm ra rất dễ dàng; chúng ta gọi họ là “Nhà Phát minh”.

Pháp môn Đại thừa này có những kỳ diệu

như nói trên. nện, chúng tôi không thấy có vị Thầy nào tu theo đạo Phật thực hành pháp môn này cả, mà chỉ nghe quý Thầy khoe mình tu theo pháp môn Đại thừa mà thôi!

THỨ TƯ: TỊNH ĐỘ

- Vị nào muốn ăn ngon mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt trần, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông thật quí ca hót, quý ông bà phải tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

Sao gọi là Tịnh Độ?

- Tịnh là Thanh tịnh.

- Độ là đưa qua.

Đưa qua đâu?

Vì các ông đang sống nơi Thế giới ồn ào, luân chuyển qui luật Nhân quả và sức hút Vật lý Âm Dương, nên phải đi theo chu kỳ: Thành-Trụ-Hoại-Diệt! tức luân hồi nên không an ổn được.

Các ông bà muốn đến sống với cảnh rất đẹp, vui tươi mà Thanh tịnh, thì trong Tam giới này chỉ có nước của Đức Phật A Di Đà là có tiêu chuẩn như các ông bà ham muốn. Đi theo chu kỳ: Thành - Trụ - Hoại - Diệt! tức luân hồi, nên không an ổn được!

Như Lai nói cho các ông bà biết:

- Nước của Đức Phật A Di Đà gọi là “Nước Tịnh Độ”.

Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?

Vì nước này rất Thanh tịnh, là nơi Đức Phật A Di Đà dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để đưa ai muốn thoát ra ngoài sức hút Nhân quả của Vật lý điện từ Âm Dương trong Tam giới này.

Các ông bà ai muốn đến nước Tịnh Độ này sinh sống thì phải thực hành 3 phần như sau:

  1. Làm phước thiện cho thật nhiều.
  2. Khi làm phước, ông bà phải cầu mong đến nước của Đức Phật A Di Đà sinh sống.
  3. Khi làm phước và cầu mong Tâm của ông bà phải thanh tịnh.

Nếu ông bà nào thực hành đúng 3 phần nói trên. Trong vòng từ 3 hay 5 hoặc 7 ngày, tự nhiên sẽ thấy được hình bóng của Đức Phật A Di Đà hiện ra nơi Tâm của ông bà.

Như Lai lưu ý ông bà về hình bóng của Đức Phật A Di Đà như sau thì mới phải:

Ngài mặc quần áo rất đẹp.

Trang sức của Ngài là những trang sức thật quý.

Xung quanh Ngài có những phong cảnh như sau:

A- Đất của Ngài đứng là bằng vàng ròng.

B- Cây, cỏ, hoa, lá, trái, v.v... là những thứ cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có màu như Châu, Ngọc.

C- Chim muông nơi cảnh Ngài ở lúc nào cũng ca hót rất hay.

D- Nhìn mênh mông nơi nước của Ngài có vô số những nơi thờ các vị Phật quá khứ.

E- Biển hay ao hoặc hồ nơi đâu cũng toàn là hoa sen có màu sắc rất đẹp.

V.v...

Các ông bà, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ này sinh sống, thì phải thực hiện các phần nói trên cho đúng.

Khi hết duyên sống nơi Thế giới loài Người thì:

  1. Việc làm phước thiện của ông bà.
  2. Sự cầu mong và mơ tưởng của ông bà.
  3. Thân, Tâm ông bà thanh tịnh.

Ba thứ này, tự nó tạo ra làn sóng điện từ Âm Dương rực rỡ, đúng với tần số điện từ Âm Dương nước của Đức Phật A Di Đà. Khi ông bà hết duyên sống nơi Thế giới này. Làn sóng điện từ Âm Dương của ông bà tự tạo ra đó, nó tự động hút Trung Ấm Thân của ông bà vào nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống.

Như Lai lưu ý ông bà về sự sống nơi nước Tịnh Độ này như sau:

Ông bà nào tạo ra phước đức vô lượng, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen thật lớn.

Ông bà nào tạo ra phước đức nhiều, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen vừa.

Ông bà nào tạo ra phước đức ít, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen nhỏ.

Nơi nước Tịnh Độ này có 9 tầng hoa sen để sanh ra Tiên con.

Tuổi thọ của 1 vị Tiên ở nước Tịnh Độ này cao nhất là 10.000 ngàn năm so với địa cầu này.

THỨ NĂM: MẬT CHÚ

- Ông bà nào muốn sinh sống nơi cảnh linh

thiêng thì phải làm 3 việc như sau:

  1. Phải làm phước thiện thật nhiều.
  2. Khi làm phước thiện, phải cầu mong đến sinh sống nơi có phong cảnh linh thiêng.
  3. Miệng lúc nào cũng niệm câu Thần chú liên tục.

Như Lai cũng nói cho các ông bà biết sự sống nơi này gọi là cõi Thần.

Người sống nơi cõi Thần, nếu ở Thế giới loài Người làm phước thiện thật nhiều, khi hết duyên sống thì được vãng sanh đến cõi Thần sinh sống và được làm Thần chủ. Còn người làm phước thiện ít, thì chỉ được làm Thần dân thôi.

THỨ SÁU: THANH TỊNH THIỀN

- Vị nào muốn giác ngộ và giải thoát ra ngoài sức cuốn hút Nhân quả của Vật lý Âm Dương nơi Thế giới này thì phải tu pháp môn Thanh tịnh thiền.

Người tu pháp môn Thanh tịnh thiền này phải làm các việc như sau:

  1. Tìm học tu “Nhất tự thiền”.
  2. Khi biết rồi phải cố gắng giúp cho nhiều người biết.
  3. Người khác biết là mình có công đức.

Công đức là để làm phương tiện giải thoát và để cho Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh được lớn.

Người nào thích thì tìm nhiều phương cách giúp họ.

Người nào không thích, tuyệt đối đừng nói với họ.

Phải thuộc lòng 12 câu kệ như dưới đây:

Thiền Thanh là Nhất tự Thiền

“Buông, Dừng, Thôi, Dứt” hết liền tử sanh

Ở trong Vật lý đua tranh

Đua tranh càng mạnh, tử sanh kéo mình!

Muốn hết tử sanh phải “Dừng”

“Dừng” tìm “Dừng” kiếm, “Dừng” luôn luận bàn

Tâm “Dừng” thì được bình an

“Dừng” theo Vật lý, muôn ngàn an vui.

Thiền Thanh phải bỏ cái “Tôi”

Vì Tôi là Ngã, luân hồi phải đi

Như Lai dạy Nhất thiền thì

An Tâm là được, việc chi cũng lìa.

Pháp môn Nhất tự thiền này nó là cực Dương. Do đó, người nào nhận được pháp môn Nhất tự thiền này rồi, thì phải tuân thủ 4 không như:

  • Không tranh luận với ai.
  • Không tiếp xúc với những người ham mê: Tiền tài, Danh lợi và Địa vị.
  • Không tiếp xúc với những người tu đạo Tà.
  • Không nói bừa bãi.

Người nào tu theo đạo Nhất tự thiền mà không tuân thủ 4 không nói trên thì thân mạng mình xem như bỏ đi vậy!

Trích: Đức Phật dạy tu Thiền Tông

Phân tích kỹ và ứng dụng 6 pháp môn tu của Đạo Phật
Chân Không

Chân Không

1630488181

Phân tích kỹ và ứng dụng 6 pháp môn tu của Đạo Phật

THỨ NHẤT: NGUYÊN THỦY, TỨC TIỂU THỪA, HAY NAM TRUYỀN

- Vì đầu tiên nên gọi là Nguyên thủy.

- Ngồi tu trong phòng nhỏ hẹp, gọi là Tiểu thừa.

- Các Thầy đem về miền Nam nước Ấn Độ truyền bá nên gọi là Nam truyền.

Pháp này, người tu sử dụng Thân, Tâm duyên hợp của Tứ đại, dụng công Quán, Tưởng vật nhỏ ra lớn hay trùm khắp phòng.

Ví dụ: Để tô nước, hay cây đèn đang cháy, hoặc cây nhang đang cháy đỏ để trước mặt. Người tu ngồi kiết dà điều thân cho vững vàng, kế đến hít 3 hơi thở cho mạnh, cho không khí vào khắp châu thân, thông các huyệt đạo, nhìn thẳng vào tô nước hay ánh đèn hoặc cây nhang đang cháy. Kế đến, kiềm cho Tâm Vật lý được thanh tịnh, khi Tâm thật sự được thanh tịnh rồi, liền Quán nước trong tô, hay ánh đèn, hoặc đóm lửa của cây nhang. Khi nào một trong các thứ trên tự nhiên như có “sự sống”:

- Nước thì như sôi lên. Ánh sáng của cây đèn hay cây nhang tăng ánh sáng lên. Người tu dụng công: Tưởng cho loan ra đầy khắp cả phòng. Khi loan ra đầy khắp cả phòng là thành công!

- Mục đích tu Thiền Quán này là muốn có Thần thông để đi khoe với bạn hữu hay người xung quanh là mình tu đã có “Thần thông”.

- Phần nhiều người tu pháp môn tu Quán, Tưởng này đi làm thầy Ảo thuật để đi kiếm tiền.

-Pháp môn này, 25 vị Thánh trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có vị áp dụng tu được thành công và trình với Đức Phật.

Pháp môn Quán, Tưởng này, có diệu dụng và kỳ đặc quá, nên quí Thầy đem về miền Nam nước Ấn Độ truyền bá. Lần lượt truyền sang các nước như: Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Lào, Camphuchia và một phần miền Nam Việt Nam để dạy. Do đó, hiện nay các nơi này triệt để tu theo pháp môn Thiền Quán và Tưởng này.

THỨ HAI: TRUNG THỪA

Phân tích pháp môn tu thứ hai gọi là Trung thừa:

- Mười lăm năm đầu, Đức Phật dạy tu pháp môn Nguyên thủy xong rồi. Mười lăm năm kế tiếp: Ngài dạy pháp môn “Lý luận”.

- Pháp môn này người vào tu cũng áp dụng như pháp môn thứ nhất. Khi người tu kiềm cho Tâm Vọng tưởng của mình được thanh tịnh rồi, tự nhiên trong Tâm Vọng tưởng tuôn ra những vầng văn, thơ hay kệ tuyệt hay. Người tu liền nắm lấy cơ hội này viết ra những lời văn, thơ hay kệ ấy. Do vậy, mới có những án văn tuyệt tác được.

Vì sao có những vầng văn thơ tuyệt tác như vậy?

- Vì cái “Tưởng” của Tánh người nó có công dụng như vậy. Cũng vì công dụng của cái Tưởng này mà nó dẫn con người đi chu du khắp trong Tam giới, đến nơi nào Tánh người ham thích.

Đức Phật gọi pháp môn này là “Triết lý Phật Thích Ca”. Vị nào tu hành thành công được như vậy, đi nói chuyện cho người khác nghe, người nghe họ rất thích nên được nhiều người tán thưởng cho nhiều tiền.

Chúng tôi xin nhắc lại:

Thi hào Nguyễn Du là một vị tu Thiền của đạo Phật, ông cũng áp dụng pháp môn tu Trung thừa này. Khi đi thăm Trung Quốc về, ông biết bên Trung Quốc có gia đình họ Dương Thúy Kiều có hoàn cảnh của “Một kiếp phù sinh như trong Nhà Phật đã dạy”, nên ông về Việt Nam biên soạn và viết ra tập “Truyện Kiều”.

Mỗi lần cầm bút viết thơ, ông dụng công cho Tâm Vật lý của ông được thanh tịnh, liền cảnh gia đình Dương Thúy Kiều hiện ra, ông liền sử dụng cái Tưởng trong Tánh người của ông, cho dòng văn thơ chảy ra, thế là ông cứ tự nhiên viết, ông càng viết văn thơ càng đổ ra. Do vậy, Truyện Kiều của ông được xem là có một không hai tại Việt Nam và cũng có thể là trên Thế giới nữa, nhờ ông biết áp dụng pháp môn tu Trung thừa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy vậy.

Ông Nguyễn Du thấy pháp môn thiền Trung thừa của Đức Phật dạy quá tuyệt, không sử dụng ngôn từ gì của Thế giới này mà nói lên được chỗ quá đẹp đó, nên ông tự đặt chỗ đó là “Tố Như”, tức cái đẹp Chân Như, Như vậy thôi, không gì của Thế gian này mà so sánh được.

Còn hiện nay, mục đích người tu theo pháp môn này, phần nhiều đi làm Giảng sư, lý luận cho mọi người khen ngợi. Nhờ vậy, đời sống của họ rất sung túc, chớ về căn bản giải thoát họ không biết được!

Vì sao không biết được?

- Vì những vị tu theo pháp môn này họ say mê đem Triết lý của mình ra để nói lại cho người khác nghe. Vì say mê nói chuyện với mọi người, nên họ bị dính mắc vào pháp môn này nên không giải thoát được.

Pháp môn này nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.

THỨ BA: ĐẠI THỪA

Pháp môn Đại thừa Đức Phật dạy như sau:

- Sử dụng Thân và Tâm duyên hợp của Vật lý ngồi Thiền: Nghi và Tìm hay Kiếm trong vật chất. Xem trong vật chất hữu dụng cho loài Người như thế nào, hay làm hại loài Người ra sao.

- Người tu pháp môn này công thức như pháp môn thứ nhất. Khi thành công biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ như là Vi trần, ngày nay gọi là Nguyên tử hoặc lớn như là Hành tinh. Vì Tìm biết được lớn lao như vậy nên gọi là Đại thừa.

Nhờ pháp môn này, Đức Phật thấy và biết trong Càn khôn Vũ trụ có:

  1. • Thái Dương hệ.
  2. • Tiểu thiên Thế giới.
  3. • Trung thiên Thế giới.
  4. • Đại thiên Thế giới.
  5. • Lực hút Âm Dương.
  6. • Chuyển biến của dòng luân hồi.
  7. • Vũ trụ không biên giới.
  8. • Sự sống loài Người.
  9. • Sự sống trong 1 Tam giới.
  10. • Công thức vượt ra ngoài sinh tử luân hồi.

V.v...

Mắt thường của chúng ta không thấy trong hư không có hình ảnh, nhưng mắt của Đức Phật thì Ngài thấy được.

Cũng nhờ pháp môn này mà các Nhà Khoa học họ tìm ra được:

• Nguồn điện.

• Lực đẩy động cơ, để rồi chế tạo ra:

A- Phi thuyền.

B- Phi cơ.

C- Tàu thủy.

D- Các loại xe.

E- Và rất nhiều vật dụng hữu ích cho loài người, V.v...

Vì Vật lý có 2 chiều đối đãi với nhau, nên các Nhà Vật lý học họ biết nguyên nhân sanh ra Vũ trụ, luân chuyển của vạn vật, biết phản ứng hóa học của vật chất. Vì vậy, các Nhà Vật lý học họ chế ra những vũ khí giết người hằng loạt, và họ cũng có thể phá tan hành tinh này rất dễ dàng!

Cũng nhờ pháp môn này, nên các vị có học vấn cao hiện nay, họ không tin những chuyện vớ vẩn mà những người xưa có đầu óc phong phú tưởng tượng nói ra.

Mục đích chánh của người tưởng tượng:

  1. Trước, để thống trị người ngu khờ.
  2. Sau, họ được ăn trên ngồi trước mà không phải đi lao động vất vả!

Nói tóm lại, pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ tìm được sự thật bên trong vật chất, nên những thứ ẩn sâu trong vạn vật họ tìm ra rất dễ dàng; chúng ta gọi họ là “Nhà Phát minh”.

Pháp môn Đại thừa này có những kỳ diệu

như nói trên. nện, chúng tôi không thấy có vị Thầy nào tu theo đạo Phật thực hành pháp môn này cả, mà chỉ nghe quý Thầy khoe mình tu theo pháp môn Đại thừa mà thôi!

THỨ TƯ: TỊNH ĐỘ

- Vị nào muốn ăn ngon mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt trần, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông thật quí ca hót, quý ông bà phải tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

Sao gọi là Tịnh Độ?

- Tịnh là Thanh tịnh.

- Độ là đưa qua.

Đưa qua đâu?

Vì các ông đang sống nơi Thế giới ồn ào, luân chuyển qui luật Nhân quả và sức hút Vật lý Âm Dương, nên phải đi theo chu kỳ: Thành-Trụ-Hoại-Diệt! tức luân hồi nên không an ổn được.

Các ông bà muốn đến sống với cảnh rất đẹp, vui tươi mà Thanh tịnh, thì trong Tam giới này chỉ có nước của Đức Phật A Di Đà là có tiêu chuẩn như các ông bà ham muốn. Đi theo chu kỳ: Thành - Trụ - Hoại - Diệt! tức luân hồi, nên không an ổn được!

Như Lai nói cho các ông bà biết:

- Nước của Đức Phật A Di Đà gọi là “Nước Tịnh Độ”.

Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?

Vì nước này rất Thanh tịnh, là nơi Đức Phật A Di Đà dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để đưa ai muốn thoát ra ngoài sức hút Nhân quả của Vật lý điện từ Âm Dương trong Tam giới này.

Các ông bà ai muốn đến nước Tịnh Độ này sinh sống thì phải thực hành 3 phần như sau:

  1. Làm phước thiện cho thật nhiều.
  2. Khi làm phước, ông bà phải cầu mong đến nước của Đức Phật A Di Đà sinh sống.
  3. Khi làm phước và cầu mong Tâm của ông bà phải thanh tịnh.

Nếu ông bà nào thực hành đúng 3 phần nói trên. Trong vòng từ 3 hay 5 hoặc 7 ngày, tự nhiên sẽ thấy được hình bóng của Đức Phật A Di Đà hiện ra nơi Tâm của ông bà.

Như Lai lưu ý ông bà về hình bóng của Đức Phật A Di Đà như sau thì mới phải:

Ngài mặc quần áo rất đẹp.

Trang sức của Ngài là những trang sức thật quý.

Xung quanh Ngài có những phong cảnh như sau:

A- Đất của Ngài đứng là bằng vàng ròng.

B- Cây, cỏ, hoa, lá, trái, v.v... là những thứ cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có màu như Châu, Ngọc.

C- Chim muông nơi cảnh Ngài ở lúc nào cũng ca hót rất hay.

D- Nhìn mênh mông nơi nước của Ngài có vô số những nơi thờ các vị Phật quá khứ.

E- Biển hay ao hoặc hồ nơi đâu cũng toàn là hoa sen có màu sắc rất đẹp.

V.v...

Các ông bà, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ này sinh sống, thì phải thực hiện các phần nói trên cho đúng.

Khi hết duyên sống nơi Thế giới loài Người thì:

  1. Việc làm phước thiện của ông bà.
  2. Sự cầu mong và mơ tưởng của ông bà.
  3. Thân, Tâm ông bà thanh tịnh.

Ba thứ này, tự nó tạo ra làn sóng điện từ Âm Dương rực rỡ, đúng với tần số điện từ Âm Dương nước của Đức Phật A Di Đà. Khi ông bà hết duyên sống nơi Thế giới này. Làn sóng điện từ Âm Dương của ông bà tự tạo ra đó, nó tự động hút Trung Ấm Thân của ông bà vào nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống.

Như Lai lưu ý ông bà về sự sống nơi nước Tịnh Độ này như sau:

Ông bà nào tạo ra phước đức vô lượng, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen thật lớn.

Ông bà nào tạo ra phước đức nhiều, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen vừa.

Ông bà nào tạo ra phước đức ít, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen nhỏ.

Nơi nước Tịnh Độ này có 9 tầng hoa sen để sanh ra Tiên con.

Tuổi thọ của 1 vị Tiên ở nước Tịnh Độ này cao nhất là 10.000 ngàn năm so với địa cầu này.

THỨ NĂM: MẬT CHÚ

- Ông bà nào muốn sinh sống nơi cảnh linh

thiêng thì phải làm 3 việc như sau:

  1. Phải làm phước thiện thật nhiều.
  2. Khi làm phước thiện, phải cầu mong đến sinh sống nơi có phong cảnh linh thiêng.
  3. Miệng lúc nào cũng niệm câu Thần chú liên tục.

Như Lai cũng nói cho các ông bà biết sự sống nơi này gọi là cõi Thần.

Người sống nơi cõi Thần, nếu ở Thế giới loài Người làm phước thiện thật nhiều, khi hết duyên sống thì được vãng sanh đến cõi Thần sinh sống và được làm Thần chủ. Còn người làm phước thiện ít, thì chỉ được làm Thần dân thôi.

THỨ SÁU: THANH TỊNH THIỀN

- Vị nào muốn giác ngộ và giải thoát ra ngoài sức cuốn hút Nhân quả của Vật lý Âm Dương nơi Thế giới này thì phải tu pháp môn Thanh tịnh thiền.

Người tu pháp môn Thanh tịnh thiền này phải làm các việc như sau:

  1. Tìm học tu “Nhất tự thiền”.
  2. Khi biết rồi phải cố gắng giúp cho nhiều người biết.
  3. Người khác biết là mình có công đức.

Công đức là để làm phương tiện giải thoát và để cho Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh được lớn.

Người nào thích thì tìm nhiều phương cách giúp họ.

Người nào không thích, tuyệt đối đừng nói với họ.

Phải thuộc lòng 12 câu kệ như dưới đây:

Thiền Thanh là Nhất tự Thiền

“Buông, Dừng, Thôi, Dứt” hết liền tử sanh

Ở trong Vật lý đua tranh

Đua tranh càng mạnh, tử sanh kéo mình!

Muốn hết tử sanh phải “Dừng”

“Dừng” tìm “Dừng” kiếm, “Dừng” luôn luận bàn

Tâm “Dừng” thì được bình an

“Dừng” theo Vật lý, muôn ngàn an vui.

Thiền Thanh phải bỏ cái “Tôi”

Vì Tôi là Ngã, luân hồi phải đi

Như Lai dạy Nhất thiền thì

An Tâm là được, việc chi cũng lìa.

Pháp môn Nhất tự thiền này nó là cực Dương. Do đó, người nào nhận được pháp môn Nhất tự thiền này rồi, thì phải tuân thủ 4 không như:

  • Không tranh luận với ai.
  • Không tiếp xúc với những người ham mê: Tiền tài, Danh lợi và Địa vị.
  • Không tiếp xúc với những người tu đạo Tà.
  • Không nói bừa bãi.

Người nào tu theo đạo Nhất tự thiền mà không tuân thủ 4 không nói trên thì thân mạng mình xem như bỏ đi vậy!

Trích: Đức Phật dạy tu Thiền Tông

Chân Không

Chân Không

1629893449

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

1. Giới thiệu
2. Lời nói đầu
3. Để tu theo Thiền tông?
4. Liên hiệp quốc công nhận đạo Phật tuyệt vời nhất
5. Đối đáp với vị thầy dạy thiền Tông ở Long Thành, Đồng Nai
6. Địa chỉ chùa Tân Diệu – Chánh gốc Thiền tông
7. Tu theo pháp môn Thiền tông cốt để thành Phật?
8. Ý nghĩa các phù điêu tại Chánh điện Thiền tông
9. Điện Tổ Thiền tông đặc biệt
10. Sự tích Vua Lương Võ Đế có tạo công đức?
11. Lục Tổ Huệ Năng giác ngộ Thiền tông
12. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyền Thiền tông cho Lục tổ
13. Bài kệ ngộ thiền của anh Nguyễn Văn Nghĩa
14. Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử – vua Trần Nhân Tông
15. Sơ Tổ sáng lập chùa Thiền tông Tân Diệu
16. Vài mẫu chuyện trong nhà thiền
17. Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma kiểm thiền Nhị Tổ Huệ Khả
18. Ý nghĩa của chữ Tịnh Độ và A Di Đà Phật
19. Cúng dường 1.000 Đức Phật không bằng cúng dường một vị “Đạo Nhân Vô Tu Vô Chứng”?
20. Câu chuyện nổi tiếng về Nhân Quả
21. Đức Phật Dược Sư Quang Lưu Ly và Di Lặc
22. Một số câu hỏi – 6 pháp môn tu Nhà Phật
23. Tu theo Thiền tông “Thấy” được cảnh giới gì? Có cần nhờ Tha lực? Đời Mạt pháp sao tu thành Phật?
24. Trình tự các bước tu chứng Tứ Quả Thanh Văn?
25. Bài kệ nói về Bể Tánh Thanh tịnh của Phật Tánh
26. Ý nghĩa chữ Phật Tỳ-Lô-Xá-Na? Tu theo Thiền tông để được cái gì? Truyền Thiền tông và truyền Tâm ấn có giống nhau không?
27. Hỏi về sách “Đạo Phật qua nhận thức mới” xuất bản trước năm 1975 qua cách nhìn của Thiền tông?
28. Hỏi về sách “Dưới chân Phật Tổ” qua cách nhìn của Thiền tông?
29. Hỏi về sách “Kim Cang Đại Định” và “Thiền Định Đại Định” qua cách nhìn của Thiền tông?
30. Hỏi về sách “Những chuyện Niệm Phật thấy Phật vãng sanh? Tu được quả vị Bồ Tát rồi sẽ đi về đâu?
31. Người Tu theo Thiền tông có phải bỏ hết tính toán các việc làm ăn hàng ngày?
32. Cuộc đối đáp thật thú vị với vị Tiến sĩ Thần học
33. Kết luận

1. Giới thiệu

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:

– Biết Phật, hiểu Tánh, là đã giác ngộ rồi. Còn biết cách “Dừng, Dứt” vật lý, thì mới giải thoát được!

Đức Tổ Bồ Đề Đạt Ma dạy:

– Biết không lập văn tự, rõ giáo ngoại biệt truyền, mới tu theo giáo pháp Thiền tông của Đức Phật dạy được!

Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy:

– Tu hành không biết Phật Tánh, tu hành vô ích!

Đức Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam dạy:

– Trong nhà có báu không xài

– Dụng công tìm kiếm, tìm hoài uổng công

– Tu thiền mà cố dụng công

– Dụng công mà được, bỏ sông cho rồi!

Tổ Pháp Loa dạy:

-Vị nào biết pháp Thanh tịnh thiền, thì mới tu giải thoát được, còn không biết mà dạy người khác là lừa người!

Tổ Huyền Quang dạy:

– Vị nào không biết Phật tánh của mình, thì vĩnh viễn phải đi trong 6 nẻo luân hồi! Đồng nghĩa, làm theo sự xúi bảo của Ma Vương!

Thiền gia Chánh Huệ Phong nói:

– Không biết Phật, không hiểu Tánh, tu 1.000 năm cũng vẫn đứng ngoài hàng rào của sân thiền, chứ nói chi vào được cửa “Bí mật Thiền tông”.

02. Lời nói đầu

Theo các kinh điển Phật giáo, cách đây hơn 2.550 năm, thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn, trị vì đất nước Ca Tỳ La Vệ, (thành cũ hiện nay thuộc miền Nam nước Népal, cách biên giới nước Ấn Độ và nước Népal 30 km. Thành mới và 10 di tích đặc biệt hiện nay thuộc miền Bắc nước Ấn Độ, trải dài gần 300 km.

Gồm: 1- Phật Đản sanh. 2- Xuất gia 3- Tu khổ hạnh. 4- Tu trung đạo. 5- Thành đạo. 6- Thuyết pháp đầu tiên để độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu. 6- Vườn Lộc Uyển. 7- Thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn, là bộ kinh đầy đủ nhất, từ sơ cơ đến quả Phật và truyền Thiền Thanh tịnh lại cho Ngài Ma Ha Ca Diếp để làm Tổ sư Thiền Thanh tịnh đời thứ nhất. 8- Đức Phật nhập Niết bàn. 9- Trà tỳ để lưu Xá Lợi của Đức Phật. 10- Bảo tháp lưu Xá Lợi của Đức Phật, và còn rất nhiều di tích khác nữa.

Còn nhỏ, Ngài hết sức thông minh, khi lớn lên, Ngài thích tìm hiểu về nhân sinh, vũ trụ và thích tìm hiểu tất cả vạn vật chung quanh. Đặc biệt, Ngài có bốn cái thắc mắc tuyệt vời như sau:

Thứ nhất: Con người từ đâu đến với thế giới này?

Thứ hai: Đến với thế giới này rồi để bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết?!

Thứ ba: Khi còn sống ở nơi thế giới này, tranh giành, hơn thua, chém giết với nhau, sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả!

Thứ tư: Chết rồi sẽ đi về đâu?

Ngài thấy làm lạ về bốn cái thắc mắc nêu trên, nên tâm Ngài luôn bị giày vò. Ngài tự nhủ:

– Chẳng lẽ, con người sống nơi thế giới này, cứ bị bốn thứ nói trên chi phối mà không thoát ra được sao? Vì muốn tìm ra cho được bốn nguyên nhân trên, nên Ngài đi hỏi tất cả những người có học vấn cao, kể cả những vị tu sĩ có danh tiếng nhất thời bấy giờ để được rõ thông, nhưng không ai giải đáp cho Ngài thỏa mãn được, nên Ngài quyết định đi tu để tìm cho ra bốn cái thắc mắc nói trên.

Ban đầu, Ngài tìm đến các vị tu Tiên để học đạo. Ngài tu các pháp môn thiền quán, đạt được các thiền như: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, thiền Phi Phi tưởng, sau cùng Ngài đạt được thiền Diệt tận định. Tuy đạt được các thiền trên và thấy được rất nhiều cõi, nhưng thẩm xa, vẫn còn thấy màn đen u tối bao quanh ở nơi phương trời xa thẳm, tức không giải thích được bốn vấn đề mà Ngài thắc mắc, nên quyết định tu thêm 1 pháp nữa là Thanh tịnh thiền. Không ngờ, tâm của Ngài bừng sáng, thấy rất rõ ràng, trùm khắp cả vũ trụ mênh mông bao la này, Ngài thấy không thiếu sót chỗ nào và không thấy chỗ nào tối cả, dù là nhỏ nhất. Ngài diễn tả vũ trụ này rộng lớn không dùng ngôn từ gì của thế giới này mà nói lên hết được, nên Ngài có cái ví dụ như sau:

– Như đem một triệu trái đất này mà nghiền nát ra thành bụi, bay về phương Đông, hoặc phương Tây, hay phương Nam, phương Bắc, phương Trên, phương Dưới; cứ gặp một hành tinh, bỏ xuống hành tinh đó một hạt bụi, bỏ hết hạt bụi của một triệu hành tinh, nhưng cũng chưa đụng biên giới của vũ trụ này!

Các người thời đó hỏi Ngài:

– Vậy, Ngài tu thành tựu được những gì, mà Ngài thấy và biết sâu xa như vậy?

Thái tử Tất Đạt Đa trả lời:

– Vì ta thấy và biết được ba cái minh:

1- Thiên nhãn minh.

2- Túc mạng minh.

3- Lậu tận minh.

Và sáu cái thông suốt.

Nên Ngài hiểu rõ và giảng trạch được bốn cái thắc mắc trên. Vì vậy, Ngài đặt “công thức” trên là “Như Lai Thanh Tịnh thiền”. Các môn đồ theo học, gọi Ngài là Bụt Đa (tức bậc giác ngộ); vì Ngài hiểu thật rõ ràng và tường tận, từ con người đến vạn vật khắp trong vũ trụ này, biết tất cả nguyên do sanh ra và bị diệt đi. Ngài thấy vũ trụ này thật là vô biên, nhưng lại tuyệt đối vô trụ, và vận hành hết sức trật tự… Ngài thấy tường tận từ nhân duyên sanh, dù là nhỏ nhất hay lớn nhất, cũng như nhân quả từ nhỏ đến lớn không sai sót một chút nào.

Có môn đồ hỏi về cái thấy và cái biết của Ngài, Ngài trả lời: “Ta thấy và biết rất rõ ràng từng hành tinh trong vũ trụ bao la mênh mông này, rất nhiều, rất nhiều không thể đếm hết được, như cát của 1 tỷ sông Hằng này gọp lại vậy; còn những lời của Ngài nói cho các người thời ấy nghe, như mấy hạt cát trong đầu ngón tay của Ngài thôi.

Vì vậy:

– Đối với Hoàng tộc, xem Ngài là một thành viên kiệt xuất.

– Đối với thần dân trong nước, xem Ngài là một vị Thánh nhân.

– Đối với nhân loại, xem Ngài là một Vĩ nhân.

– Đối với các môn đồ, xem Ngài là một vị Bụt Đa (là vị giác ngộ, tức hiểu biết, người Trung Hoa gọi là Phật Đà, còn người Việt Nam chúng ta gọi Ngài là Đức Phật).

Có thể nói, Ngài là một con người có một không hai ở thế giới này. Với uy danh lớn lao như vậy, nhưng đồ dùng hằng ngày của Ngài chỉ có ba bộ y để mặc, để ngủ, để sinh hoạt, đi ra ngoài thất. Cái bát để ăn cơm và uống nước của Ngài, tự Ngài làm lấy. Còn chỗ ở của Ngài là cái thất ở dưới gốc cây, bằng lá đơn sơ. Khi ông Cấp Cô Độc nghe lời dạy của Ngài, ông nhận ra được cái Phật tánh chân thật ở nơi ông; ông trình thưa với Đức Phật:

– Con thấy trên đời này, không gì qúi bằng Phật tánh chân thật của chính con. Vậy, con kính trình xin Đức Thế Tôn cho phép con bỏ ra một số vàng lớn mua khu vườn của thái tử Kỳ Đà để cất Tinh Xá cho Đức Thế Tôn và các môn đồ của Đức Thế Tôn ở, kính xin Đức Thế Tôn chấp nhận lời con. Đức Phật đồng ý và nhờ ông Xá Lợi Phất lo việc này.

Thái tử Kỳ Đà, thấy tấm lòng của ông Cấp Cô Độc kính trọng Đức Phật quá lớn, nên Thái tử Kỳ Đà tặng ông Cấp Cô Độc tất cả những cây kiểng trong vườn, làm cảnh trí nơi Đức Phật ở, để tăng thêm phần cảnh đẹp.

Khi Đức Phật thấy và hiểu được bốn cái thắc mắc trên. Trong 49 năm, Đức Phật đi nói cái chân thật mà Ngài đã tìm ra cho những ai muốn tìm hiểu. Vì vậy, khi lìa bỏ thế giới này, Ngài để lại “công thức” qúi nhất là “Như Lai Thanh Tịnh thiền” cho đệ tử ưu tú nhất của Đức Phật là ông Ma Ha Ca Diếp, vì vị này đã nhận ra Phật Tánh thanh tịnh của chính ông và sống được với Phật tánh ấy.

Pháp môn Thanh tịnh thiền này, ông nhận ra bằng tánh Thấy của ông qua cành hoa sen mà Đức Phật đưa lên tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn. Tại buổi “kiểm thiền” này, duy nhất chỉ có ông Ma Ha Ca Diếp, lanh lợi nhận ra đầu tiên; còn những vị có mặt cũng có nhiều vị cũng nhận ra, nhưng vì chậm hơn, nên Đức Phật có dạy như sau, ta có:

– Chánh pháp, nhãn tạng

– Niết bàn diệu tâm

– Pháp môn mầu nhiệm

– Không lập văn tự

– Truyền ngoài giáo lý

– Ai biết Phật mình

– Nhận được Tánh mình

– Mới tu đúng chánh pháp Thanh tịnh thiền được.

Cũng nhờ pháp môn Thanh tịnh thiền này, mà Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận ra Phật tánh chân thật của chính mình nên được làm Tổ thứ nhất, còn Ngài Xá Lợi Phất mới được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh của chính mình” nên Ngài mới trình thưa với Đức Phật những gì mà Ngài thấy và biết trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh.

Vì pháp môn quá tuyệt quí này nên Đức Phật dạy thêm:

– Pháp môn tu thiền Thanh tịnh này, là pháp môn rất mầu nhiệm, có ba cấp bậc như sau:

1- Vị nào hiểu biết căn bản của pháp môn tu Thanh tịnh thiền này, là vị đó coi như đã bước vào được “Sân thiền”, cũng gọi là đạt “Yếu chỉ Thiền tông”.

2- Vị nào hiểu biết được tất cả các pháp môn mà Như Lai dạy nơi thế giới này, vị đó xem như đã mở cửa được “Nhà thiền”, cũng gọi là đạt được “Bí mật Thiền tông”.

3- Vị nào vào được”Nhà thiền” rồi, mà “Được rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, vị đó coi như đã về đến “Quê xưa” của mình.

Đức Phật lại dạy:

– Hôm nay, tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn này, Như Lai chánh thức truyền thiền Thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca Diếp, để nối tiếp Như Lai dạy pháp môn Thanh tịnh thiền này, Như Lai nói rõ cho các ông biết: Dòng của mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, nay đã bắt đầu rồi đó, và dòng chảy của nguồn thiền Thanh tịnh ở nước này chỉ có 28 đời Tổ thôi, sau sẽ đến nước lớn ở phương Đông, có thêm 5 đời Tổ nữa, sau đó chảy đến đất Rồng thêm được 3 đời Tổ nữa, rồi Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này sẽ ẩn.

Đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng, có một vị nhận được dòng chảy của Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, và cũng từ đây, Nguồn thiền Thanh tịnh sẽ được người có tâm lớn cho chảy đi khắp Năm châu.

Đức Phật lại dạy tiếp:

– Này ông Ma Ha Ca Diếp, nguồn thiền Thanh tịnh này, ông đừng cho đoạn dứt, khi ông lìa bỏ thế giới này, ông hãy truyền lại cho ông An Nan Đà, nối tiếp ông làm Tổ sư thiền đời thứ 2; cũng từ đời ông A Nan Đà trở đi phải gọi là Thiền tông.

Vì sao phải gọi đổi tên hiệu như vậy?

– Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, nếu gọi như tên cũ thì không đúng lắm.

Vì sao vậy?

– Vì pháp môn tu thiền này, nó không được phép ghi vào trong các kinh của Như Lai dạy; mà nó phải chảy riêng theo dòng thiền của nó, chỉ có những vị có nhiệm vụ dẫn mạch nguồn thiền này mới được phép nắm giữ văn kệ Huyền ký của Như Lai thôi. Như vậy, phải gọi là Thiền tông, tức pháp môn thiền học này có tông và dòng riêng của nó.

Như Lai có Huyền ký cho vị Tổ thứ 33 biết: Đến đời vị Tổ này, pháp môn Thiền tông, chỉ dạy một phần nhỏ thôi, khi vị đó gần diệt độ, vị đó phải cho phép vị đệ tử nào ưu tú nhất, công bố pháp môn Thiền tông học này ra, để những người có mặt vào đời Mạt Thượng pháp họ nhận được và công bố đi khắp Năm châu…

Người sưu tầm và biên soạn, kiêm tác giả Nguyễn Nhân

Nguồn: Thiền Tông

Cuộc đời và Ngộ đạo của 36 Vị tổ sư Thiền Tông - Nguyễn Nhân

ORGANIZATION OF 1 THREE REALMS ? ORGANIZATION OF THE BUDDHA'S WORLD?

 

Organization of 1 Three Realms:
Three is three, Realm is realm or boundary. Where is it?
- It’s 1 small cluster in the Cosmos Universe. If we assume within a form in the cosmos universe, the
three realms are still smaller than a piece of sand in this earth.
- In 1 the three realms has 1 Sun, there are 45 planets which have life, there are numberless of planets
created by: Gold – Wood – Water – Fire – Earth – Energy Yin – Energy Yang.
-There are 4 zodiac revolutions around the sun and 1 revolution to protect the three realms, divided as
follows:
1/- One Sun at the center: consecutive burning up the heat and light to warm and light for 45 planets
around 4 zodiac revolutions.
2/- Zodiac revolution 1: There are 6 planets created by four elements and electromagnetic energy of
Yin + Yang without color is where human, 4 others living beings, and plants live together.
3/- Zodiac revolution 2: There are 11 planets created by the electromagnetic energy of Yin + Yang with
5 dark colors, this is where heaven realms live.
4/- Zodiac revolution 3: There are 17 planets created by the electromagnetic energy of Yin + Yang with
12 prismatic colors divided into 2 places:
- Place 1: There are 11 planets created by the electromagnetic energy of Yin + Yang with 12 prismatic
colors and dreamlike is where heaven realms live.
- Place 2: There are 6 planets created by the electromagnetic energy of Yin + Yang with 12 prismatic
colors, but extremely purity is where deva immortals live.
5/- Zodiac revolution 4: There are 11 planets created by the electromagnetic energy of Yin + Yang
without color is where heaven realms are, for those who enjoy bliss of purity to live.
6/- The protection revolution of the three realms: There is not any planet, but there are only 2electromagnetic energy of Yin + Yang divided into 3 parts of use:
- Use 1 is electromagnetic energy of Yin: Always suck and compress hard together all planets in the
three realms and won’t let them escape from the three realms.
- Use 2 is electromagnetic energy of Yang: Always pushes out the three realms around and doesn’t let
all three realms collide with each other.
- Use 3 is developing the compression: Creating the compression in 1 three realms to let the living
planets and material planets gyrate and fly in the vastness of space in the three realms.
:
Organization of the Buddha’s world:
- Buddha’s world has 3 parts:
- One: The vastness of space so immense to embrace the universe, wherever the universe is the
Buddha’s world is that immense. In the Buddha’s world created by the energy of Halo; this energy of
Halo becomes the living for Buddha nature, the Buddha, Heaven, Immortal deva, deity, humans and all
living beings in those three realms.
- Two: Place where numberless of Buddha natures live.
- Three: Place where numberless of the Buddhas live.

#thientong #buddha 

The Gnostic life of 36 Zen masters
☞ ☞ https://youtu.be/5vj0Ra5k4lc?list=PLO...
King Tran Nhan Tong teaching his children 
https://youtu.be/bGRRUMExQy0?list=PLO...
Universe and Buddha's Life: 
https://youtu.be/B9OirtQ_ioA?list=PLO...
Legend of the 
https://youtu.be/yAVt9P8mj9s?list=PLO...
The Buddha taught Zen Buddhism and the Formula of Liberation:
https://youtu.be/zNIdnGXs3uk?list=PLO...

Đức Phật dạy tu Thiền Tông và Công thức Giải Thoát

What is Buddha nature?

The nature is a sheath created by the energy of halo.

1/- In the nature has a mind

2/- In the mind there are 4 things: Seeing, Hearing, Speaking and Awareness

3/- Buddha is vastness space immense embrace to the Universe.

4/- Therefore, called Buddha nature.


How to develop the human being’s nature and how to disintegrate the human’s nature?

Development of 1 human nature has 8 elements:

1/- Wanting of Buddha nature that borrow human’s body to create merit.

2/- Buddha nature

3/- Man’s sperm and women’s ovum

4/- The electromagnetic energy of Yin + Yang attraction

5/- Mother’s Uterus

6/- Sleep in the Mother’s uterus

7/- Duration of time is 9 months and 10 days

8/- Mother give birth a human’s body, human nature is developed.

Human nature could disintegrate just have 4 elements:
1/- Buddha nature must want to return back to the Buddha Realm.

2/- Buddha nature must remember all natures: Seeing – Hearing – Speaking – Awareness of one’s
Buddha nature, all together called “Seeing Nature”.

3/- Depending on this Seeing Nature that Buddha Nature control human nature to create merit.

4/- Merit is perfectly full, Buddha nature control the sheath of human nature to become the super-fast
and light Intermediate State Body. It becomes the transportation condition for Buddha nature and the
unit of merit passing over the Yang Ocean Tide gate of the earth, entering the Operation Center of
reincarnation of the Three Realm. This Intermediate State Body enter the Operation Center of
Reincarnation of the Three Realm, there is no longer physics attraction of the electromagnetic energy
of Yin + Yang, therefore the Intermediate State Body must disintegrate and return merging together
with Yin + Yang energy. Human nature is immediately disappeared.
Buddha Nature and the unit of merit are freedom passing over the Yang Ocean Tide gate to return back
to the Buddha Realm.
Đức Phật dạy tu Thiền Tông và Công thức Giải Thoát: ☞ https://youtu.be/zNIdnGXs3uk?list=PLO... 

Công Đức là gì? Cách tạo Công Đức trong sáng 👉 https://www.youtube.com/watch?v=ek6IZ...
 

Chân Không

Chân Không

1629906979

Cuộc đời của Đức Phật bị luân hồi và thành Phật

Sách Trắng Thiền Tông

01. Bài kệ 12 câu của Đức Phật dạy
02. Phật Giới
03. Tam Giới
04. Giải thích Cõi Trời Vô Sắc
05. Giải thích Cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ
06. Giải thích Cõi Trời Dục Giới
07. Địa cầu là nơi 5 loài sống chung – Ngũ Thú Tạp Cư
08. Đức Phật kể Ngài bị luân hồi trong Tam Giới, sau cùng thành Phật
09. Những lời dạy tuyệt mật để lưu lại hậu thế theo dòng Thiền tông

MỞ ĐẦU LÀ BÀI KỆ 12 CÂU CỦA ĐỨC PHẬT DẠY

Phật giới gồm có những chi?
Càn khôn Vũ trụ có chi phải tường?
Tam giới phải rõ thông đường
Người tu theo Phật rõ đường để đi.

Tánh Người phải biết là chi?
Ở trong tánh Phật có gì phải thông?
Phải rõ luân chuyển trong Trần
Giải thoát ra khỏi đường Trần là an.

Như Lai dạy rất rõ ràng
Không chịu tìm hiểu nói càng kiếm danh
Cứ mãi lường gạt đua tranh
Cứ đi, đi mãi loanh quanh luân hồi!

Mười hai câu kệ trên đây, là của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ông Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông tuyệt mật. Để cung cấp cho các vị Tổ Thiền tông làm căn bản về pháp môn Thiền tông học. Sau các đời Tổ sư Thiền tông truyền lại cho Thiền tông sư và Thiền tông gia làm bản gốc dạy pháp môn Thiền tông học này.
Đức Thế Tôn dạy tiếp 12 câu kệ: 
Sự sống vị Phật là sao?
Sự sống Tam giới là sao phải tường?
Tu Phật phải rõ thông đường
Luân hồi sinh tử không vươn làm gì.

Tu phước là để được chi?
Tạo ra công đức làm gì phải thông?
Tu sao còn dính trong Trần?
Tu sao giải thoát mười phần phải thông?

Ngồi thiền Quán, Tưởng, Cầu mong
Nhìn trong Tam giới mà không hiểu gì
Thiền tông Phật dạy để chi?
Phải biết thật rõ hết đi luân hồi!  

PHẦN MỘT: Phật giới:

– Nói không gian trùm khắp không biên giới.
– Gọi là “Bể tánh Thanh tịnh”.
– Trong Bể tánh Thanh tịnh có các phần như sau:
 

Một: Điện từ Quang trùm khắp, làm sự sống cho:
1-Tánh Phật
2-Các vị Phật.
3-Cấu tạo vỏ bọc của tánh Phật.

Hai:  Trong Phật giới có Hằng hà sa số cái Ý.
Cái Ý này tự nhiên có đầy khắp trong Phật giới.
Cái Ý này tự nó có 4 phần:
1- Lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.
2- Lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe.
3- Lúc nào cũng rung động, muốn phát ra tiếng thì có tiếng, gọi là hằng Pháp.
4-Lúc nào cũng biết, gọi là hằng Tri.

PHẦN HAI: Tam giới:
Một vùng rất nhỏ trong Càn khôn Vũ trụ phải hiểu như sau:
Một Thái dương hệ gọi là 1 Tam giới, gồm có:
– Một ngàn Thái dương hệ gọi là 1 Tiểu thiên thế giới.
– Một Tiểu thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 tỷ Tam giới, gọi là 1 Trung thiên thế giới.
Trung thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 ngàn tỷ Tam giới, gọi là Đại thiên thế giới.
Mà Như Lai nhìn thấy trong Càn khôn Vũ trụ này có Hằng hà sa số Tam thiên Đại thiên thế giới. Đồng nghĩa, đem số cát của mấy  tỷ sông Hằng ra đếm, thì số cát của mấy tỷ sông Hằng cũng không bằng số Tam thiên Đại thiên thế giới nữa, mà Tam thiên Đại thiên thế giới nó nằm trong Càn khôn Vũ trụ.
Trong 1 Tam giới có 45 hành tinh chia ra như sau:
Một: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, gọi là “Cõi Trời Vô Sắc”.
Hai/A: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương, gọi là “Cõi Trời Hữu Sắc”.
Hai/B: Trong cõi trời Hữu Sắc rực rỡ này, có 6 hành tinh rất thanh tịnh, gọi là “Lục Quốc Tịnh Độ”.
Ba: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 5 màu sắc điện từ Âm Dương thật đậm, cường lực rất mạnh, nên gọi là “Cõi Trời Dục Giới”.
Bốn: Có 6 hành tinh, cấu tạo bằng “Tứ đại”: Đất – Nước – Gió – Lửa. Nơi 5 loài sống chung, tức “Ngũ thú tạp cư”, gọi là Địa cầu.
Một Tam giới mà đã có nhiều hành tinh như vậy. Ai đó bảo: Càn khôn Vũ trụ này là do họ làm ra, là không đúng sự thật.

PHẦN BA: Giải thích cõi trời Vô Sắc:
Vì sao gọi là cõi trời Vô Sắc?
– Vì cõi trời này cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, rất thanh tịnh. Do đó, sự sống ở cõi trời này rất thanh tịnh.
Gồm có 11 hành tinh:
1- Trời Vô Lượng Nghiêm Sức.
2- Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt.
3- Trời Vô Tưởng.
4-Trời Vô Phiền.
5- Trời Vô Nhiệt.
6- Trời Thiện Kiến.
7- Trời Thiện Hiện.
8- Trời Sắc Cứu Cánh.
9- Trời Ma Hê Thủ La.
10- Trời Phi Phi Tưởng.
11- Trời Phi Phi Tưởng Xứ.
– Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Vô Sắc”.
– Người sống ở cõi trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này, vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ cũng tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
– Việc làm ở cõi Trời này có việc như sau:
Trời nam và Trời nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Trời con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Chứa trong Trung Ấm Thân này, là cái vỏ bọc tánh Phật.
Trung Ấm Thân của con người làm gì mà được vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này?
– Vì Trung Ấm Thân khi còn sống ở thế giới loài Người thích làm 3 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi thanh tịnh.
3- Ngồi thiền ép cho tâm Vật lý được thanh tịnh.
Ở thế giới loài Người, ai muốn sống nơi thanh thịnh thì thực hành ba phần nói trên. Tức tự tạo ra làn sóng nghiệp thanh tịnh. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, thì được làn sóng nghiệp do mình tự tạo ra đó, nó tự động hút đưa mình đến cõi Trời Vô Sắc này.
Một vị Trời ở cõi Trời Vô Sắc này được sanh ra như sau:
Trung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích thanh tịnh, đến với cõi Trời Vô Sắc này. Đầu tiên, phải tìm đến đôi Trời nam và nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 900 năm, 10 ngàn ngày. Sau đó, được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
Vị Trời con sống nơi cõi Trời Vô Sắc này có 4 việc làm như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Dụng công tọa thiền để thụ hưởng cái an vui kỳ diệu do mình dụng công tọa thiền mà có.
3- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Vô Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
4- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
– Tuổi thọ của loài Trời Vô Sắc này là 100 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
– Ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 4 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều để tạo “Nghiệp thiện”.
B-Cầu mong được sống nơi thanh tịnh.
C_Tọa thiền, dụng công ép cho thân mình khô kiệt.
D- Ép cho tâm Vật lý không còn suy nghĩ.

Ai thực hiện đúng 4 phần nói trên, khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến sống 1 trong 11 hành tinh Vô Sắc này.


PHẦN BỐN: Giải thích cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ:
Cõi Trời Hữu Sắc có 11 hành tinh:

1-Trời Đại Phạm.
2-Trời Thiểu Quang.
3- Trời Vô Lượng Quang.
4- Trời Quang Âm.
5- Trời Thiểu Tịnh.
6-Trời Vô Lượng Tịnh.
7-Trời Biến Tịnh.
8-Trời Phước Sanh.
9-Trời Phước Ái.
10- Trời Quãng Quả.
11-.Trời Nghiêm Sức.
Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Hữu Sắc”.
Người sống ở cõi Trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ là do cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương nên lúc nào họ cũng thích cảnh có màu sắc đẹp.
– Việc làm ở cõi Trời này có 3 việc như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Hữu Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ.
3- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
Loài Người ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Hữu Sắc này sinh sống thì ở thế giới loài Người phải là 2 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi cảnh đẹp.
Vì làm được 2 phần nói trên, nên khi còn ở nơi thế giới loài Người, họ tự tạo ra làn sóng nghiệp vui tươi. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, tánh Người được biến thành là Trung Thân, nên được làn sóng nghiệp bằng điện từ Âm Dương do mình tự tạo ra đó,  tự động hút đưa Trung Ấm Thân mình đến cõi trời Hữu Sắc này.
Một vị Trời ở cõi trời Hữu Sắc này được sanh ra như sau:
Tung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích vui tươi, đến với cõi Trời Hữu Sắc này. Đầu tiên là phải tìm đến đôi Trời nam và Trời nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 90 năm, 1 ngàn  ngày. Sau đó được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
– Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.


Nước Tịnh Độ:
– Có 6 hành tinh cấu tạo bằng 12 màu sắc của điện từ Âm Dương cũng rất rực rỡ và thanh tịnh.
Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?
– Vì nó cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ và thanh tịnh, là nơi dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để giúp người tu vượt ra ngoài sự cuốn hút của thế giới Vật lý Âm Dương.
Nước Tịnh Độ này có 6 hành tinh, gồm: 
1- Nước Tịnh Độ của Đức A Sơ Bệ Phật ở hướng Đông mặt trời.
2-Nước Tịnh Độ của Đức A Di Đà Phật ở hướng Tây mặt trời.
3- Nước Tịnh Độ của Đức Nguyệt Đăng Phật ở hướng Nam mặt trời.
4- Nước Tịnh Độ của Đức Diệm Kiên Phật ở hướng Bắc mặt trời.
5- Nước Tịnh Độ của Đức Phạm Âm Phật ở hướng Trên mặt trời.
6- Nước Tịnh Độ của Đức Sư Tử Phật ở hướng Dưới mặt trời.
– Vị cai quản nước Tịnh Độ này gọi là Đức Phật.
– Người sống ở các nước này gọi là Tiên nam hay Tiên nữ.
– Việc làm ở cõi Trời này có 4 việc như sau:
1- Tiên nam và Tiên nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Tiên con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Khi Tiên nữ thụ thai, liền đến ao hay hồ hoặc biển đẻ vào hoa sen đó 1 noãn Tiên. Thời gian sanh ra vị Tiên này là tùy theo sự làm phước và mong cầu của người này khi còn là 1 con người sống nơi thế giới loài Người, mà trong Cửu Phẩm Liên Hoa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có nói rất rõ.
2- Được đi lại tự do bất cứ đâu trong nước Tịnh Độ này.
3- Ngày nào cũng đi cúng các nơi thờ những Đức Phật quá khứ.
4- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Tịnh Độ này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rất rực rỡ.
– Tuổi thọ Tiên sống ở cõi Tịnh Độ này là 1 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, trước khi trở lại sống nơi thế giới loài Người thì phải qua Đức Phật A Di Đà dẫn ra ao hay hồ hoặc biển kiểm thiền, coi vị Tiên này có được giải thoát hay còn bị đi trong Lục đạo luân hồi nữa.
Bằng cách, Đức Phật A Di Đà bẻ 1 cành hoa sen đưa cho vị Tiên ấy xem, nếu vị Tiên ấy nhìn thấy cành hoa sen mà thấy được bằng tánh thanh tịnh Phật tánh của chính mình, thì vị vị Tiên ấy sẽ được Đức Phật A Di Đà xác nhận bằng câu: "Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”.
Rồi Đức Phật A Di Đà dạy vị Tiên này 8 phần tuyệt mật trong một Tam giới như:
1- Phật giới.
2- Số lượng hành tinh trong Tam giới.
3- Tại sao bị luân hồi.
4- Làm sao được ra ngoài vòng luân hồi.
5- Tạo ra phước đức để làm gì.
6- Tạo ra công đức để làm chi.
7- Một vị Phật được hình thành như thế nào.
8- Nhiệm vụ của một vị Phật.
Tám phần dạy nói trên, vị Tiên ấy khi đã học xong, Đức Phật A Di Đà mới đưa vị Tiên ấy trở lại thế giới loài Người, đến gần chỗ “Mạch nguồn thiền Thanh tịnh” đang phổ biến.  Nhờ vậy, khi vị này vừa nghe đến 2 tiếng “Thiền tông”, tự nhiên nhớ lại tất cả những gì mà Đức Phật A Di Đà đã dạy họ.
– Còn ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 2 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều.
B- Ngày nào cũng mong muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống. Khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến nước của Ngài.

Nhà sưu tầm Thiền học Phật giáo kiêm soạn giả Nguyễn Nhân, tức Nguyễn Công Nhân

Xem thêm: Thiền Tông

#thientong #cankhonvutru #cuocdoicuaducphat