Chân Không

Chân Không

1629893449

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

1. Giới thiệu
2. Lời nói đầu
3. Để tu theo Thiền tông?
4. Liên hiệp quốc công nhận đạo Phật tuyệt vời nhất
5. Đối đáp với vị thầy dạy thiền Tông ở Long Thành, Đồng Nai
6. Địa chỉ chùa Tân Diệu – Chánh gốc Thiền tông
7. Tu theo pháp môn Thiền tông cốt để thành Phật?
8. Ý nghĩa các phù điêu tại Chánh điện Thiền tông
9. Điện Tổ Thiền tông đặc biệt
10. Sự tích Vua Lương Võ Đế có tạo công đức?
11. Lục Tổ Huệ Năng giác ngộ Thiền tông
12. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyền Thiền tông cho Lục tổ
13. Bài kệ ngộ thiền của anh Nguyễn Văn Nghĩa
14. Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử – vua Trần Nhân Tông
15. Sơ Tổ sáng lập chùa Thiền tông Tân Diệu
16. Vài mẫu chuyện trong nhà thiền
17. Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma kiểm thiền Nhị Tổ Huệ Khả
18. Ý nghĩa của chữ Tịnh Độ và A Di Đà Phật
19. Cúng dường 1.000 Đức Phật không bằng cúng dường một vị “Đạo Nhân Vô Tu Vô Chứng”?
20. Câu chuyện nổi tiếng về Nhân Quả
21. Đức Phật Dược Sư Quang Lưu Ly và Di Lặc
22. Một số câu hỏi – 6 pháp môn tu Nhà Phật
23. Tu theo Thiền tông “Thấy” được cảnh giới gì? Có cần nhờ Tha lực? Đời Mạt pháp sao tu thành Phật?
24. Trình tự các bước tu chứng Tứ Quả Thanh Văn?
25. Bài kệ nói về Bể Tánh Thanh tịnh của Phật Tánh
26. Ý nghĩa chữ Phật Tỳ-Lô-Xá-Na? Tu theo Thiền tông để được cái gì? Truyền Thiền tông và truyền Tâm ấn có giống nhau không?
27. Hỏi về sách “Đạo Phật qua nhận thức mới” xuất bản trước năm 1975 qua cách nhìn của Thiền tông?
28. Hỏi về sách “Dưới chân Phật Tổ” qua cách nhìn của Thiền tông?
29. Hỏi về sách “Kim Cang Đại Định” và “Thiền Định Đại Định” qua cách nhìn của Thiền tông?
30. Hỏi về sách “Những chuyện Niệm Phật thấy Phật vãng sanh? Tu được quả vị Bồ Tát rồi sẽ đi về đâu?
31. Người Tu theo Thiền tông có phải bỏ hết tính toán các việc làm ăn hàng ngày?
32. Cuộc đối đáp thật thú vị với vị Tiến sĩ Thần học
33. Kết luận

1. Giới thiệu

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:

– Biết Phật, hiểu Tánh, là đã giác ngộ rồi. Còn biết cách “Dừng, Dứt” vật lý, thì mới giải thoát được!

Đức Tổ Bồ Đề Đạt Ma dạy:

– Biết không lập văn tự, rõ giáo ngoại biệt truyền, mới tu theo giáo pháp Thiền tông của Đức Phật dạy được!

Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy:

– Tu hành không biết Phật Tánh, tu hành vô ích!

Đức Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam dạy:

– Trong nhà có báu không xài

– Dụng công tìm kiếm, tìm hoài uổng công

– Tu thiền mà cố dụng công

– Dụng công mà được, bỏ sông cho rồi!

Tổ Pháp Loa dạy:

-Vị nào biết pháp Thanh tịnh thiền, thì mới tu giải thoát được, còn không biết mà dạy người khác là lừa người!

Tổ Huyền Quang dạy:

– Vị nào không biết Phật tánh của mình, thì vĩnh viễn phải đi trong 6 nẻo luân hồi! Đồng nghĩa, làm theo sự xúi bảo của Ma Vương!

Thiền gia Chánh Huệ Phong nói:

– Không biết Phật, không hiểu Tánh, tu 1.000 năm cũng vẫn đứng ngoài hàng rào của sân thiền, chứ nói chi vào được cửa “Bí mật Thiền tông”.

02. Lời nói đầu

Theo các kinh điển Phật giáo, cách đây hơn 2.550 năm, thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn, trị vì đất nước Ca Tỳ La Vệ, (thành cũ hiện nay thuộc miền Nam nước Népal, cách biên giới nước Ấn Độ và nước Népal 30 km. Thành mới và 10 di tích đặc biệt hiện nay thuộc miền Bắc nước Ấn Độ, trải dài gần 300 km.

Gồm: 1- Phật Đản sanh. 2- Xuất gia 3- Tu khổ hạnh. 4- Tu trung đạo. 5- Thành đạo. 6- Thuyết pháp đầu tiên để độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu. 6- Vườn Lộc Uyển. 7- Thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn, là bộ kinh đầy đủ nhất, từ sơ cơ đến quả Phật và truyền Thiền Thanh tịnh lại cho Ngài Ma Ha Ca Diếp để làm Tổ sư Thiền Thanh tịnh đời thứ nhất. 8- Đức Phật nhập Niết bàn. 9- Trà tỳ để lưu Xá Lợi của Đức Phật. 10- Bảo tháp lưu Xá Lợi của Đức Phật, và còn rất nhiều di tích khác nữa.

Còn nhỏ, Ngài hết sức thông minh, khi lớn lên, Ngài thích tìm hiểu về nhân sinh, vũ trụ và thích tìm hiểu tất cả vạn vật chung quanh. Đặc biệt, Ngài có bốn cái thắc mắc tuyệt vời như sau:

Thứ nhất: Con người từ đâu đến với thế giới này?

Thứ hai: Đến với thế giới này rồi để bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết?!

Thứ ba: Khi còn sống ở nơi thế giới này, tranh giành, hơn thua, chém giết với nhau, sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả!

Thứ tư: Chết rồi sẽ đi về đâu?

Ngài thấy làm lạ về bốn cái thắc mắc nêu trên, nên tâm Ngài luôn bị giày vò. Ngài tự nhủ:

– Chẳng lẽ, con người sống nơi thế giới này, cứ bị bốn thứ nói trên chi phối mà không thoát ra được sao? Vì muốn tìm ra cho được bốn nguyên nhân trên, nên Ngài đi hỏi tất cả những người có học vấn cao, kể cả những vị tu sĩ có danh tiếng nhất thời bấy giờ để được rõ thông, nhưng không ai giải đáp cho Ngài thỏa mãn được, nên Ngài quyết định đi tu để tìm cho ra bốn cái thắc mắc nói trên.

Ban đầu, Ngài tìm đến các vị tu Tiên để học đạo. Ngài tu các pháp môn thiền quán, đạt được các thiền như: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, thiền Phi Phi tưởng, sau cùng Ngài đạt được thiền Diệt tận định. Tuy đạt được các thiền trên và thấy được rất nhiều cõi, nhưng thẩm xa, vẫn còn thấy màn đen u tối bao quanh ở nơi phương trời xa thẳm, tức không giải thích được bốn vấn đề mà Ngài thắc mắc, nên quyết định tu thêm 1 pháp nữa là Thanh tịnh thiền. Không ngờ, tâm của Ngài bừng sáng, thấy rất rõ ràng, trùm khắp cả vũ trụ mênh mông bao la này, Ngài thấy không thiếu sót chỗ nào và không thấy chỗ nào tối cả, dù là nhỏ nhất. Ngài diễn tả vũ trụ này rộng lớn không dùng ngôn từ gì của thế giới này mà nói lên hết được, nên Ngài có cái ví dụ như sau:

– Như đem một triệu trái đất này mà nghiền nát ra thành bụi, bay về phương Đông, hoặc phương Tây, hay phương Nam, phương Bắc, phương Trên, phương Dưới; cứ gặp một hành tinh, bỏ xuống hành tinh đó một hạt bụi, bỏ hết hạt bụi của một triệu hành tinh, nhưng cũng chưa đụng biên giới của vũ trụ này!

Các người thời đó hỏi Ngài:

– Vậy, Ngài tu thành tựu được những gì, mà Ngài thấy và biết sâu xa như vậy?

Thái tử Tất Đạt Đa trả lời:

– Vì ta thấy và biết được ba cái minh:

1- Thiên nhãn minh.

2- Túc mạng minh.

3- Lậu tận minh.

Và sáu cái thông suốt.

Nên Ngài hiểu rõ và giảng trạch được bốn cái thắc mắc trên. Vì vậy, Ngài đặt “công thức” trên là “Như Lai Thanh Tịnh thiền”. Các môn đồ theo học, gọi Ngài là Bụt Đa (tức bậc giác ngộ); vì Ngài hiểu thật rõ ràng và tường tận, từ con người đến vạn vật khắp trong vũ trụ này, biết tất cả nguyên do sanh ra và bị diệt đi. Ngài thấy vũ trụ này thật là vô biên, nhưng lại tuyệt đối vô trụ, và vận hành hết sức trật tự… Ngài thấy tường tận từ nhân duyên sanh, dù là nhỏ nhất hay lớn nhất, cũng như nhân quả từ nhỏ đến lớn không sai sót một chút nào.

Có môn đồ hỏi về cái thấy và cái biết của Ngài, Ngài trả lời: “Ta thấy và biết rất rõ ràng từng hành tinh trong vũ trụ bao la mênh mông này, rất nhiều, rất nhiều không thể đếm hết được, như cát của 1 tỷ sông Hằng này gọp lại vậy; còn những lời của Ngài nói cho các người thời ấy nghe, như mấy hạt cát trong đầu ngón tay của Ngài thôi.

Vì vậy:

– Đối với Hoàng tộc, xem Ngài là một thành viên kiệt xuất.

– Đối với thần dân trong nước, xem Ngài là một vị Thánh nhân.

– Đối với nhân loại, xem Ngài là một Vĩ nhân.

– Đối với các môn đồ, xem Ngài là một vị Bụt Đa (là vị giác ngộ, tức hiểu biết, người Trung Hoa gọi là Phật Đà, còn người Việt Nam chúng ta gọi Ngài là Đức Phật).

Có thể nói, Ngài là một con người có một không hai ở thế giới này. Với uy danh lớn lao như vậy, nhưng đồ dùng hằng ngày của Ngài chỉ có ba bộ y để mặc, để ngủ, để sinh hoạt, đi ra ngoài thất. Cái bát để ăn cơm và uống nước của Ngài, tự Ngài làm lấy. Còn chỗ ở của Ngài là cái thất ở dưới gốc cây, bằng lá đơn sơ. Khi ông Cấp Cô Độc nghe lời dạy của Ngài, ông nhận ra được cái Phật tánh chân thật ở nơi ông; ông trình thưa với Đức Phật:

– Con thấy trên đời này, không gì qúi bằng Phật tánh chân thật của chính con. Vậy, con kính trình xin Đức Thế Tôn cho phép con bỏ ra một số vàng lớn mua khu vườn của thái tử Kỳ Đà để cất Tinh Xá cho Đức Thế Tôn và các môn đồ của Đức Thế Tôn ở, kính xin Đức Thế Tôn chấp nhận lời con. Đức Phật đồng ý và nhờ ông Xá Lợi Phất lo việc này.

Thái tử Kỳ Đà, thấy tấm lòng của ông Cấp Cô Độc kính trọng Đức Phật quá lớn, nên Thái tử Kỳ Đà tặng ông Cấp Cô Độc tất cả những cây kiểng trong vườn, làm cảnh trí nơi Đức Phật ở, để tăng thêm phần cảnh đẹp.

Khi Đức Phật thấy và hiểu được bốn cái thắc mắc trên. Trong 49 năm, Đức Phật đi nói cái chân thật mà Ngài đã tìm ra cho những ai muốn tìm hiểu. Vì vậy, khi lìa bỏ thế giới này, Ngài để lại “công thức” qúi nhất là “Như Lai Thanh Tịnh thiền” cho đệ tử ưu tú nhất của Đức Phật là ông Ma Ha Ca Diếp, vì vị này đã nhận ra Phật Tánh thanh tịnh của chính ông và sống được với Phật tánh ấy.

Pháp môn Thanh tịnh thiền này, ông nhận ra bằng tánh Thấy của ông qua cành hoa sen mà Đức Phật đưa lên tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn. Tại buổi “kiểm thiền” này, duy nhất chỉ có ông Ma Ha Ca Diếp, lanh lợi nhận ra đầu tiên; còn những vị có mặt cũng có nhiều vị cũng nhận ra, nhưng vì chậm hơn, nên Đức Phật có dạy như sau, ta có:

– Chánh pháp, nhãn tạng

– Niết bàn diệu tâm

– Pháp môn mầu nhiệm

– Không lập văn tự

– Truyền ngoài giáo lý

– Ai biết Phật mình

– Nhận được Tánh mình

– Mới tu đúng chánh pháp Thanh tịnh thiền được.

Cũng nhờ pháp môn Thanh tịnh thiền này, mà Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận ra Phật tánh chân thật của chính mình nên được làm Tổ thứ nhất, còn Ngài Xá Lợi Phất mới được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh của chính mình” nên Ngài mới trình thưa với Đức Phật những gì mà Ngài thấy và biết trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh.

Vì pháp môn quá tuyệt quí này nên Đức Phật dạy thêm:

– Pháp môn tu thiền Thanh tịnh này, là pháp môn rất mầu nhiệm, có ba cấp bậc như sau:

1- Vị nào hiểu biết căn bản của pháp môn tu Thanh tịnh thiền này, là vị đó coi như đã bước vào được “Sân thiền”, cũng gọi là đạt “Yếu chỉ Thiền tông”.

2- Vị nào hiểu biết được tất cả các pháp môn mà Như Lai dạy nơi thế giới này, vị đó xem như đã mở cửa được “Nhà thiền”, cũng gọi là đạt được “Bí mật Thiền tông”.

3- Vị nào vào được”Nhà thiền” rồi, mà “Được rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, vị đó coi như đã về đến “Quê xưa” của mình.

Đức Phật lại dạy:

– Hôm nay, tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn này, Như Lai chánh thức truyền thiền Thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca Diếp, để nối tiếp Như Lai dạy pháp môn Thanh tịnh thiền này, Như Lai nói rõ cho các ông biết: Dòng của mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, nay đã bắt đầu rồi đó, và dòng chảy của nguồn thiền Thanh tịnh ở nước này chỉ có 28 đời Tổ thôi, sau sẽ đến nước lớn ở phương Đông, có thêm 5 đời Tổ nữa, sau đó chảy đến đất Rồng thêm được 3 đời Tổ nữa, rồi Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này sẽ ẩn.

Đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng, có một vị nhận được dòng chảy của Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, và cũng từ đây, Nguồn thiền Thanh tịnh sẽ được người có tâm lớn cho chảy đi khắp Năm châu.

Đức Phật lại dạy tiếp:

– Này ông Ma Ha Ca Diếp, nguồn thiền Thanh tịnh này, ông đừng cho đoạn dứt, khi ông lìa bỏ thế giới này, ông hãy truyền lại cho ông An Nan Đà, nối tiếp ông làm Tổ sư thiền đời thứ 2; cũng từ đời ông A Nan Đà trở đi phải gọi là Thiền tông.

Vì sao phải gọi đổi tên hiệu như vậy?

– Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, nếu gọi như tên cũ thì không đúng lắm.

Vì sao vậy?

– Vì pháp môn tu thiền này, nó không được phép ghi vào trong các kinh của Như Lai dạy; mà nó phải chảy riêng theo dòng thiền của nó, chỉ có những vị có nhiệm vụ dẫn mạch nguồn thiền này mới được phép nắm giữ văn kệ Huyền ký của Như Lai thôi. Như vậy, phải gọi là Thiền tông, tức pháp môn thiền học này có tông và dòng riêng của nó.

Như Lai có Huyền ký cho vị Tổ thứ 33 biết: Đến đời vị Tổ này, pháp môn Thiền tông, chỉ dạy một phần nhỏ thôi, khi vị đó gần diệt độ, vị đó phải cho phép vị đệ tử nào ưu tú nhất, công bố pháp môn Thiền tông học này ra, để những người có mặt vào đời Mạt Thượng pháp họ nhận được và công bố đi khắp Năm châu…

Người sưu tầm và biên soạn, kiêm tác giả Nguyễn Nhân

Nguồn: Thiền Tông

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ
Chân Không

Chân Không

1629893449

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

1. Giới thiệu
2. Lời nói đầu
3. Để tu theo Thiền tông?
4. Liên hiệp quốc công nhận đạo Phật tuyệt vời nhất
5. Đối đáp với vị thầy dạy thiền Tông ở Long Thành, Đồng Nai
6. Địa chỉ chùa Tân Diệu – Chánh gốc Thiền tông
7. Tu theo pháp môn Thiền tông cốt để thành Phật?
8. Ý nghĩa các phù điêu tại Chánh điện Thiền tông
9. Điện Tổ Thiền tông đặc biệt
10. Sự tích Vua Lương Võ Đế có tạo công đức?
11. Lục Tổ Huệ Năng giác ngộ Thiền tông
12. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyền Thiền tông cho Lục tổ
13. Bài kệ ngộ thiền của anh Nguyễn Văn Nghĩa
14. Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử – vua Trần Nhân Tông
15. Sơ Tổ sáng lập chùa Thiền tông Tân Diệu
16. Vài mẫu chuyện trong nhà thiền
17. Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma kiểm thiền Nhị Tổ Huệ Khả
18. Ý nghĩa của chữ Tịnh Độ và A Di Đà Phật
19. Cúng dường 1.000 Đức Phật không bằng cúng dường một vị “Đạo Nhân Vô Tu Vô Chứng”?
20. Câu chuyện nổi tiếng về Nhân Quả
21. Đức Phật Dược Sư Quang Lưu Ly và Di Lặc
22. Một số câu hỏi – 6 pháp môn tu Nhà Phật
23. Tu theo Thiền tông “Thấy” được cảnh giới gì? Có cần nhờ Tha lực? Đời Mạt pháp sao tu thành Phật?
24. Trình tự các bước tu chứng Tứ Quả Thanh Văn?
25. Bài kệ nói về Bể Tánh Thanh tịnh của Phật Tánh
26. Ý nghĩa chữ Phật Tỳ-Lô-Xá-Na? Tu theo Thiền tông để được cái gì? Truyền Thiền tông và truyền Tâm ấn có giống nhau không?
27. Hỏi về sách “Đạo Phật qua nhận thức mới” xuất bản trước năm 1975 qua cách nhìn của Thiền tông?
28. Hỏi về sách “Dưới chân Phật Tổ” qua cách nhìn của Thiền tông?
29. Hỏi về sách “Kim Cang Đại Định” và “Thiền Định Đại Định” qua cách nhìn của Thiền tông?
30. Hỏi về sách “Những chuyện Niệm Phật thấy Phật vãng sanh? Tu được quả vị Bồ Tát rồi sẽ đi về đâu?
31. Người Tu theo Thiền tông có phải bỏ hết tính toán các việc làm ăn hàng ngày?
32. Cuộc đối đáp thật thú vị với vị Tiến sĩ Thần học
33. Kết luận

1. Giới thiệu

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:

– Biết Phật, hiểu Tánh, là đã giác ngộ rồi. Còn biết cách “Dừng, Dứt” vật lý, thì mới giải thoát được!

Đức Tổ Bồ Đề Đạt Ma dạy:

– Biết không lập văn tự, rõ giáo ngoại biệt truyền, mới tu theo giáo pháp Thiền tông của Đức Phật dạy được!

Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy:

– Tu hành không biết Phật Tánh, tu hành vô ích!

Đức Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam dạy:

– Trong nhà có báu không xài

– Dụng công tìm kiếm, tìm hoài uổng công

– Tu thiền mà cố dụng công

– Dụng công mà được, bỏ sông cho rồi!

Tổ Pháp Loa dạy:

-Vị nào biết pháp Thanh tịnh thiền, thì mới tu giải thoát được, còn không biết mà dạy người khác là lừa người!

Tổ Huyền Quang dạy:

– Vị nào không biết Phật tánh của mình, thì vĩnh viễn phải đi trong 6 nẻo luân hồi! Đồng nghĩa, làm theo sự xúi bảo của Ma Vương!

Thiền gia Chánh Huệ Phong nói:

– Không biết Phật, không hiểu Tánh, tu 1.000 năm cũng vẫn đứng ngoài hàng rào của sân thiền, chứ nói chi vào được cửa “Bí mật Thiền tông”.

02. Lời nói đầu

Theo các kinh điển Phật giáo, cách đây hơn 2.550 năm, thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn, trị vì đất nước Ca Tỳ La Vệ, (thành cũ hiện nay thuộc miền Nam nước Népal, cách biên giới nước Ấn Độ và nước Népal 30 km. Thành mới và 10 di tích đặc biệt hiện nay thuộc miền Bắc nước Ấn Độ, trải dài gần 300 km.

Gồm: 1- Phật Đản sanh. 2- Xuất gia 3- Tu khổ hạnh. 4- Tu trung đạo. 5- Thành đạo. 6- Thuyết pháp đầu tiên để độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu. 6- Vườn Lộc Uyển. 7- Thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn, là bộ kinh đầy đủ nhất, từ sơ cơ đến quả Phật và truyền Thiền Thanh tịnh lại cho Ngài Ma Ha Ca Diếp để làm Tổ sư Thiền Thanh tịnh đời thứ nhất. 8- Đức Phật nhập Niết bàn. 9- Trà tỳ để lưu Xá Lợi của Đức Phật. 10- Bảo tháp lưu Xá Lợi của Đức Phật, và còn rất nhiều di tích khác nữa.

Còn nhỏ, Ngài hết sức thông minh, khi lớn lên, Ngài thích tìm hiểu về nhân sinh, vũ trụ và thích tìm hiểu tất cả vạn vật chung quanh. Đặc biệt, Ngài có bốn cái thắc mắc tuyệt vời như sau:

Thứ nhất: Con người từ đâu đến với thế giới này?

Thứ hai: Đến với thế giới này rồi để bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết?!

Thứ ba: Khi còn sống ở nơi thế giới này, tranh giành, hơn thua, chém giết với nhau, sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả!

Thứ tư: Chết rồi sẽ đi về đâu?

Ngài thấy làm lạ về bốn cái thắc mắc nêu trên, nên tâm Ngài luôn bị giày vò. Ngài tự nhủ:

– Chẳng lẽ, con người sống nơi thế giới này, cứ bị bốn thứ nói trên chi phối mà không thoát ra được sao? Vì muốn tìm ra cho được bốn nguyên nhân trên, nên Ngài đi hỏi tất cả những người có học vấn cao, kể cả những vị tu sĩ có danh tiếng nhất thời bấy giờ để được rõ thông, nhưng không ai giải đáp cho Ngài thỏa mãn được, nên Ngài quyết định đi tu để tìm cho ra bốn cái thắc mắc nói trên.

Ban đầu, Ngài tìm đến các vị tu Tiên để học đạo. Ngài tu các pháp môn thiền quán, đạt được các thiền như: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, thiền Phi Phi tưởng, sau cùng Ngài đạt được thiền Diệt tận định. Tuy đạt được các thiền trên và thấy được rất nhiều cõi, nhưng thẩm xa, vẫn còn thấy màn đen u tối bao quanh ở nơi phương trời xa thẳm, tức không giải thích được bốn vấn đề mà Ngài thắc mắc, nên quyết định tu thêm 1 pháp nữa là Thanh tịnh thiền. Không ngờ, tâm của Ngài bừng sáng, thấy rất rõ ràng, trùm khắp cả vũ trụ mênh mông bao la này, Ngài thấy không thiếu sót chỗ nào và không thấy chỗ nào tối cả, dù là nhỏ nhất. Ngài diễn tả vũ trụ này rộng lớn không dùng ngôn từ gì của thế giới này mà nói lên hết được, nên Ngài có cái ví dụ như sau:

– Như đem một triệu trái đất này mà nghiền nát ra thành bụi, bay về phương Đông, hoặc phương Tây, hay phương Nam, phương Bắc, phương Trên, phương Dưới; cứ gặp một hành tinh, bỏ xuống hành tinh đó một hạt bụi, bỏ hết hạt bụi của một triệu hành tinh, nhưng cũng chưa đụng biên giới của vũ trụ này!

Các người thời đó hỏi Ngài:

– Vậy, Ngài tu thành tựu được những gì, mà Ngài thấy và biết sâu xa như vậy?

Thái tử Tất Đạt Đa trả lời:

– Vì ta thấy và biết được ba cái minh:

1- Thiên nhãn minh.

2- Túc mạng minh.

3- Lậu tận minh.

Và sáu cái thông suốt.

Nên Ngài hiểu rõ và giảng trạch được bốn cái thắc mắc trên. Vì vậy, Ngài đặt “công thức” trên là “Như Lai Thanh Tịnh thiền”. Các môn đồ theo học, gọi Ngài là Bụt Đa (tức bậc giác ngộ); vì Ngài hiểu thật rõ ràng và tường tận, từ con người đến vạn vật khắp trong vũ trụ này, biết tất cả nguyên do sanh ra và bị diệt đi. Ngài thấy vũ trụ này thật là vô biên, nhưng lại tuyệt đối vô trụ, và vận hành hết sức trật tự… Ngài thấy tường tận từ nhân duyên sanh, dù là nhỏ nhất hay lớn nhất, cũng như nhân quả từ nhỏ đến lớn không sai sót một chút nào.

Có môn đồ hỏi về cái thấy và cái biết của Ngài, Ngài trả lời: “Ta thấy và biết rất rõ ràng từng hành tinh trong vũ trụ bao la mênh mông này, rất nhiều, rất nhiều không thể đếm hết được, như cát của 1 tỷ sông Hằng này gọp lại vậy; còn những lời của Ngài nói cho các người thời ấy nghe, như mấy hạt cát trong đầu ngón tay của Ngài thôi.

Vì vậy:

– Đối với Hoàng tộc, xem Ngài là một thành viên kiệt xuất.

– Đối với thần dân trong nước, xem Ngài là một vị Thánh nhân.

– Đối với nhân loại, xem Ngài là một Vĩ nhân.

– Đối với các môn đồ, xem Ngài là một vị Bụt Đa (là vị giác ngộ, tức hiểu biết, người Trung Hoa gọi là Phật Đà, còn người Việt Nam chúng ta gọi Ngài là Đức Phật).

Có thể nói, Ngài là một con người có một không hai ở thế giới này. Với uy danh lớn lao như vậy, nhưng đồ dùng hằng ngày của Ngài chỉ có ba bộ y để mặc, để ngủ, để sinh hoạt, đi ra ngoài thất. Cái bát để ăn cơm và uống nước của Ngài, tự Ngài làm lấy. Còn chỗ ở của Ngài là cái thất ở dưới gốc cây, bằng lá đơn sơ. Khi ông Cấp Cô Độc nghe lời dạy của Ngài, ông nhận ra được cái Phật tánh chân thật ở nơi ông; ông trình thưa với Đức Phật:

– Con thấy trên đời này, không gì qúi bằng Phật tánh chân thật của chính con. Vậy, con kính trình xin Đức Thế Tôn cho phép con bỏ ra một số vàng lớn mua khu vườn của thái tử Kỳ Đà để cất Tinh Xá cho Đức Thế Tôn và các môn đồ của Đức Thế Tôn ở, kính xin Đức Thế Tôn chấp nhận lời con. Đức Phật đồng ý và nhờ ông Xá Lợi Phất lo việc này.

Thái tử Kỳ Đà, thấy tấm lòng của ông Cấp Cô Độc kính trọng Đức Phật quá lớn, nên Thái tử Kỳ Đà tặng ông Cấp Cô Độc tất cả những cây kiểng trong vườn, làm cảnh trí nơi Đức Phật ở, để tăng thêm phần cảnh đẹp.

Khi Đức Phật thấy và hiểu được bốn cái thắc mắc trên. Trong 49 năm, Đức Phật đi nói cái chân thật mà Ngài đã tìm ra cho những ai muốn tìm hiểu. Vì vậy, khi lìa bỏ thế giới này, Ngài để lại “công thức” qúi nhất là “Như Lai Thanh Tịnh thiền” cho đệ tử ưu tú nhất của Đức Phật là ông Ma Ha Ca Diếp, vì vị này đã nhận ra Phật Tánh thanh tịnh của chính ông và sống được với Phật tánh ấy.

Pháp môn Thanh tịnh thiền này, ông nhận ra bằng tánh Thấy của ông qua cành hoa sen mà Đức Phật đưa lên tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn. Tại buổi “kiểm thiền” này, duy nhất chỉ có ông Ma Ha Ca Diếp, lanh lợi nhận ra đầu tiên; còn những vị có mặt cũng có nhiều vị cũng nhận ra, nhưng vì chậm hơn, nên Đức Phật có dạy như sau, ta có:

– Chánh pháp, nhãn tạng

– Niết bàn diệu tâm

– Pháp môn mầu nhiệm

– Không lập văn tự

– Truyền ngoài giáo lý

– Ai biết Phật mình

– Nhận được Tánh mình

– Mới tu đúng chánh pháp Thanh tịnh thiền được.

Cũng nhờ pháp môn Thanh tịnh thiền này, mà Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận ra Phật tánh chân thật của chính mình nên được làm Tổ thứ nhất, còn Ngài Xá Lợi Phất mới được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh của chính mình” nên Ngài mới trình thưa với Đức Phật những gì mà Ngài thấy và biết trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh.

Vì pháp môn quá tuyệt quí này nên Đức Phật dạy thêm:

– Pháp môn tu thiền Thanh tịnh này, là pháp môn rất mầu nhiệm, có ba cấp bậc như sau:

1- Vị nào hiểu biết căn bản của pháp môn tu Thanh tịnh thiền này, là vị đó coi như đã bước vào được “Sân thiền”, cũng gọi là đạt “Yếu chỉ Thiền tông”.

2- Vị nào hiểu biết được tất cả các pháp môn mà Như Lai dạy nơi thế giới này, vị đó xem như đã mở cửa được “Nhà thiền”, cũng gọi là đạt được “Bí mật Thiền tông”.

3- Vị nào vào được”Nhà thiền” rồi, mà “Được rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, vị đó coi như đã về đến “Quê xưa” của mình.

Đức Phật lại dạy:

– Hôm nay, tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn này, Như Lai chánh thức truyền thiền Thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca Diếp, để nối tiếp Như Lai dạy pháp môn Thanh tịnh thiền này, Như Lai nói rõ cho các ông biết: Dòng của mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, nay đã bắt đầu rồi đó, và dòng chảy của nguồn thiền Thanh tịnh ở nước này chỉ có 28 đời Tổ thôi, sau sẽ đến nước lớn ở phương Đông, có thêm 5 đời Tổ nữa, sau đó chảy đến đất Rồng thêm được 3 đời Tổ nữa, rồi Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này sẽ ẩn.

Đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng, có một vị nhận được dòng chảy của Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, và cũng từ đây, Nguồn thiền Thanh tịnh sẽ được người có tâm lớn cho chảy đi khắp Năm châu.

Đức Phật lại dạy tiếp:

– Này ông Ma Ha Ca Diếp, nguồn thiền Thanh tịnh này, ông đừng cho đoạn dứt, khi ông lìa bỏ thế giới này, ông hãy truyền lại cho ông An Nan Đà, nối tiếp ông làm Tổ sư thiền đời thứ 2; cũng từ đời ông A Nan Đà trở đi phải gọi là Thiền tông.

Vì sao phải gọi đổi tên hiệu như vậy?

– Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, nếu gọi như tên cũ thì không đúng lắm.

Vì sao vậy?

– Vì pháp môn tu thiền này, nó không được phép ghi vào trong các kinh của Như Lai dạy; mà nó phải chảy riêng theo dòng thiền của nó, chỉ có những vị có nhiệm vụ dẫn mạch nguồn thiền này mới được phép nắm giữ văn kệ Huyền ký của Như Lai thôi. Như vậy, phải gọi là Thiền tông, tức pháp môn thiền học này có tông và dòng riêng của nó.

Như Lai có Huyền ký cho vị Tổ thứ 33 biết: Đến đời vị Tổ này, pháp môn Thiền tông, chỉ dạy một phần nhỏ thôi, khi vị đó gần diệt độ, vị đó phải cho phép vị đệ tử nào ưu tú nhất, công bố pháp môn Thiền tông học này ra, để những người có mặt vào đời Mạt Thượng pháp họ nhận được và công bố đi khắp Năm châu…

Người sưu tầm và biên soạn, kiêm tác giả Nguyễn Nhân

Nguồn: Thiền Tông

Chân Không

Chân Không

1630488181

Phân tích kỹ và ứng dụng 6 pháp môn tu của Đạo Phật

THỨ NHẤT: NGUYÊN THỦY, TỨC TIỂU THỪA, HAY NAM TRUYỀN

- Vì đầu tiên nên gọi là Nguyên thủy.

- Ngồi tu trong phòng nhỏ hẹp, gọi là Tiểu thừa.

- Các Thầy đem về miền Nam nước Ấn Độ truyền bá nên gọi là Nam truyền.

Pháp này, người tu sử dụng Thân, Tâm duyên hợp của Tứ đại, dụng công Quán, Tưởng vật nhỏ ra lớn hay trùm khắp phòng.

Ví dụ: Để tô nước, hay cây đèn đang cháy, hoặc cây nhang đang cháy đỏ để trước mặt. Người tu ngồi kiết dà điều thân cho vững vàng, kế đến hít 3 hơi thở cho mạnh, cho không khí vào khắp châu thân, thông các huyệt đạo, nhìn thẳng vào tô nước hay ánh đèn hoặc cây nhang đang cháy. Kế đến, kiềm cho Tâm Vật lý được thanh tịnh, khi Tâm thật sự được thanh tịnh rồi, liền Quán nước trong tô, hay ánh đèn, hoặc đóm lửa của cây nhang. Khi nào một trong các thứ trên tự nhiên như có “sự sống”:

- Nước thì như sôi lên. Ánh sáng của cây đèn hay cây nhang tăng ánh sáng lên. Người tu dụng công: Tưởng cho loan ra đầy khắp cả phòng. Khi loan ra đầy khắp cả phòng là thành công!

- Mục đích tu Thiền Quán này là muốn có Thần thông để đi khoe với bạn hữu hay người xung quanh là mình tu đã có “Thần thông”.

- Phần nhiều người tu pháp môn tu Quán, Tưởng này đi làm thầy Ảo thuật để đi kiếm tiền.

-Pháp môn này, 25 vị Thánh trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có vị áp dụng tu được thành công và trình với Đức Phật.

Pháp môn Quán, Tưởng này, có diệu dụng và kỳ đặc quá, nên quí Thầy đem về miền Nam nước Ấn Độ truyền bá. Lần lượt truyền sang các nước như: Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Lào, Camphuchia và một phần miền Nam Việt Nam để dạy. Do đó, hiện nay các nơi này triệt để tu theo pháp môn Thiền Quán và Tưởng này.

THỨ HAI: TRUNG THỪA

Phân tích pháp môn tu thứ hai gọi là Trung thừa:

- Mười lăm năm đầu, Đức Phật dạy tu pháp môn Nguyên thủy xong rồi. Mười lăm năm kế tiếp: Ngài dạy pháp môn “Lý luận”.

- Pháp môn này người vào tu cũng áp dụng như pháp môn thứ nhất. Khi người tu kiềm cho Tâm Vọng tưởng của mình được thanh tịnh rồi, tự nhiên trong Tâm Vọng tưởng tuôn ra những vầng văn, thơ hay kệ tuyệt hay. Người tu liền nắm lấy cơ hội này viết ra những lời văn, thơ hay kệ ấy. Do vậy, mới có những án văn tuyệt tác được.

Vì sao có những vầng văn thơ tuyệt tác như vậy?

- Vì cái “Tưởng” của Tánh người nó có công dụng như vậy. Cũng vì công dụng của cái Tưởng này mà nó dẫn con người đi chu du khắp trong Tam giới, đến nơi nào Tánh người ham thích.

Đức Phật gọi pháp môn này là “Triết lý Phật Thích Ca”. Vị nào tu hành thành công được như vậy, đi nói chuyện cho người khác nghe, người nghe họ rất thích nên được nhiều người tán thưởng cho nhiều tiền.

Chúng tôi xin nhắc lại:

Thi hào Nguyễn Du là một vị tu Thiền của đạo Phật, ông cũng áp dụng pháp môn tu Trung thừa này. Khi đi thăm Trung Quốc về, ông biết bên Trung Quốc có gia đình họ Dương Thúy Kiều có hoàn cảnh của “Một kiếp phù sinh như trong Nhà Phật đã dạy”, nên ông về Việt Nam biên soạn và viết ra tập “Truyện Kiều”.

Mỗi lần cầm bút viết thơ, ông dụng công cho Tâm Vật lý của ông được thanh tịnh, liền cảnh gia đình Dương Thúy Kiều hiện ra, ông liền sử dụng cái Tưởng trong Tánh người của ông, cho dòng văn thơ chảy ra, thế là ông cứ tự nhiên viết, ông càng viết văn thơ càng đổ ra. Do vậy, Truyện Kiều của ông được xem là có một không hai tại Việt Nam và cũng có thể là trên Thế giới nữa, nhờ ông biết áp dụng pháp môn tu Trung thừa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy vậy.

Ông Nguyễn Du thấy pháp môn thiền Trung thừa của Đức Phật dạy quá tuyệt, không sử dụng ngôn từ gì của Thế giới này mà nói lên được chỗ quá đẹp đó, nên ông tự đặt chỗ đó là “Tố Như”, tức cái đẹp Chân Như, Như vậy thôi, không gì của Thế gian này mà so sánh được.

Còn hiện nay, mục đích người tu theo pháp môn này, phần nhiều đi làm Giảng sư, lý luận cho mọi người khen ngợi. Nhờ vậy, đời sống của họ rất sung túc, chớ về căn bản giải thoát họ không biết được!

Vì sao không biết được?

- Vì những vị tu theo pháp môn này họ say mê đem Triết lý của mình ra để nói lại cho người khác nghe. Vì say mê nói chuyện với mọi người, nên họ bị dính mắc vào pháp môn này nên không giải thoát được.

Pháp môn này nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.

THỨ BA: ĐẠI THỪA

Pháp môn Đại thừa Đức Phật dạy như sau:

- Sử dụng Thân và Tâm duyên hợp của Vật lý ngồi Thiền: Nghi và Tìm hay Kiếm trong vật chất. Xem trong vật chất hữu dụng cho loài Người như thế nào, hay làm hại loài Người ra sao.

- Người tu pháp môn này công thức như pháp môn thứ nhất. Khi thành công biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ như là Vi trần, ngày nay gọi là Nguyên tử hoặc lớn như là Hành tinh. Vì Tìm biết được lớn lao như vậy nên gọi là Đại thừa.

Nhờ pháp môn này, Đức Phật thấy và biết trong Càn khôn Vũ trụ có:

  1. • Thái Dương hệ.
  2. • Tiểu thiên Thế giới.
  3. • Trung thiên Thế giới.
  4. • Đại thiên Thế giới.
  5. • Lực hút Âm Dương.
  6. • Chuyển biến của dòng luân hồi.
  7. • Vũ trụ không biên giới.
  8. • Sự sống loài Người.
  9. • Sự sống trong 1 Tam giới.
  10. • Công thức vượt ra ngoài sinh tử luân hồi.

V.v...

Mắt thường của chúng ta không thấy trong hư không có hình ảnh, nhưng mắt của Đức Phật thì Ngài thấy được.

Cũng nhờ pháp môn này mà các Nhà Khoa học họ tìm ra được:

• Nguồn điện.

• Lực đẩy động cơ, để rồi chế tạo ra:

A- Phi thuyền.

B- Phi cơ.

C- Tàu thủy.

D- Các loại xe.

E- Và rất nhiều vật dụng hữu ích cho loài người, V.v...

Vì Vật lý có 2 chiều đối đãi với nhau, nên các Nhà Vật lý học họ biết nguyên nhân sanh ra Vũ trụ, luân chuyển của vạn vật, biết phản ứng hóa học của vật chất. Vì vậy, các Nhà Vật lý học họ chế ra những vũ khí giết người hằng loạt, và họ cũng có thể phá tan hành tinh này rất dễ dàng!

Cũng nhờ pháp môn này, nên các vị có học vấn cao hiện nay, họ không tin những chuyện vớ vẩn mà những người xưa có đầu óc phong phú tưởng tượng nói ra.

Mục đích chánh của người tưởng tượng:

  1. Trước, để thống trị người ngu khờ.
  2. Sau, họ được ăn trên ngồi trước mà không phải đi lao động vất vả!

Nói tóm lại, pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ tìm được sự thật bên trong vật chất, nên những thứ ẩn sâu trong vạn vật họ tìm ra rất dễ dàng; chúng ta gọi họ là “Nhà Phát minh”.

Pháp môn Đại thừa này có những kỳ diệu

như nói trên. nện, chúng tôi không thấy có vị Thầy nào tu theo đạo Phật thực hành pháp môn này cả, mà chỉ nghe quý Thầy khoe mình tu theo pháp môn Đại thừa mà thôi!

THỨ TƯ: TỊNH ĐỘ

- Vị nào muốn ăn ngon mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt trần, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông thật quí ca hót, quý ông bà phải tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

Sao gọi là Tịnh Độ?

- Tịnh là Thanh tịnh.

- Độ là đưa qua.

Đưa qua đâu?

Vì các ông đang sống nơi Thế giới ồn ào, luân chuyển qui luật Nhân quả và sức hút Vật lý Âm Dương, nên phải đi theo chu kỳ: Thành-Trụ-Hoại-Diệt! tức luân hồi nên không an ổn được.

Các ông bà muốn đến sống với cảnh rất đẹp, vui tươi mà Thanh tịnh, thì trong Tam giới này chỉ có nước của Đức Phật A Di Đà là có tiêu chuẩn như các ông bà ham muốn. Đi theo chu kỳ: Thành - Trụ - Hoại - Diệt! tức luân hồi, nên không an ổn được!

Như Lai nói cho các ông bà biết:

- Nước của Đức Phật A Di Đà gọi là “Nước Tịnh Độ”.

Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?

Vì nước này rất Thanh tịnh, là nơi Đức Phật A Di Đà dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để đưa ai muốn thoát ra ngoài sức hút Nhân quả của Vật lý điện từ Âm Dương trong Tam giới này.

Các ông bà ai muốn đến nước Tịnh Độ này sinh sống thì phải thực hành 3 phần như sau:

  1. Làm phước thiện cho thật nhiều.
  2. Khi làm phước, ông bà phải cầu mong đến nước của Đức Phật A Di Đà sinh sống.
  3. Khi làm phước và cầu mong Tâm của ông bà phải thanh tịnh.

Nếu ông bà nào thực hành đúng 3 phần nói trên. Trong vòng từ 3 hay 5 hoặc 7 ngày, tự nhiên sẽ thấy được hình bóng của Đức Phật A Di Đà hiện ra nơi Tâm của ông bà.

Như Lai lưu ý ông bà về hình bóng của Đức Phật A Di Đà như sau thì mới phải:

Ngài mặc quần áo rất đẹp.

Trang sức của Ngài là những trang sức thật quý.

Xung quanh Ngài có những phong cảnh như sau:

A- Đất của Ngài đứng là bằng vàng ròng.

B- Cây, cỏ, hoa, lá, trái, v.v... là những thứ cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có màu như Châu, Ngọc.

C- Chim muông nơi cảnh Ngài ở lúc nào cũng ca hót rất hay.

D- Nhìn mênh mông nơi nước của Ngài có vô số những nơi thờ các vị Phật quá khứ.

E- Biển hay ao hoặc hồ nơi đâu cũng toàn là hoa sen có màu sắc rất đẹp.

V.v...

Các ông bà, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ này sinh sống, thì phải thực hiện các phần nói trên cho đúng.

Khi hết duyên sống nơi Thế giới loài Người thì:

  1. Việc làm phước thiện của ông bà.
  2. Sự cầu mong và mơ tưởng của ông bà.
  3. Thân, Tâm ông bà thanh tịnh.

Ba thứ này, tự nó tạo ra làn sóng điện từ Âm Dương rực rỡ, đúng với tần số điện từ Âm Dương nước của Đức Phật A Di Đà. Khi ông bà hết duyên sống nơi Thế giới này. Làn sóng điện từ Âm Dương của ông bà tự tạo ra đó, nó tự động hút Trung Ấm Thân của ông bà vào nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống.

Như Lai lưu ý ông bà về sự sống nơi nước Tịnh Độ này như sau:

Ông bà nào tạo ra phước đức vô lượng, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen thật lớn.

Ông bà nào tạo ra phước đức nhiều, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen vừa.

Ông bà nào tạo ra phước đức ít, khi vãng sanh vào đây, được vào hoa sen nhỏ.

Nơi nước Tịnh Độ này có 9 tầng hoa sen để sanh ra Tiên con.

Tuổi thọ của 1 vị Tiên ở nước Tịnh Độ này cao nhất là 10.000 ngàn năm so với địa cầu này.

THỨ NĂM: MẬT CHÚ

- Ông bà nào muốn sinh sống nơi cảnh linh

thiêng thì phải làm 3 việc như sau:

  1. Phải làm phước thiện thật nhiều.
  2. Khi làm phước thiện, phải cầu mong đến sinh sống nơi có phong cảnh linh thiêng.
  3. Miệng lúc nào cũng niệm câu Thần chú liên tục.

Như Lai cũng nói cho các ông bà biết sự sống nơi này gọi là cõi Thần.

Người sống nơi cõi Thần, nếu ở Thế giới loài Người làm phước thiện thật nhiều, khi hết duyên sống thì được vãng sanh đến cõi Thần sinh sống và được làm Thần chủ. Còn người làm phước thiện ít, thì chỉ được làm Thần dân thôi.

THỨ SÁU: THANH TỊNH THIỀN

- Vị nào muốn giác ngộ và giải thoát ra ngoài sức cuốn hút Nhân quả của Vật lý Âm Dương nơi Thế giới này thì phải tu pháp môn Thanh tịnh thiền.

Người tu pháp môn Thanh tịnh thiền này phải làm các việc như sau:

  1. Tìm học tu “Nhất tự thiền”.
  2. Khi biết rồi phải cố gắng giúp cho nhiều người biết.
  3. Người khác biết là mình có công đức.

Công đức là để làm phương tiện giải thoát và để cho Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh được lớn.

Người nào thích thì tìm nhiều phương cách giúp họ.

Người nào không thích, tuyệt đối đừng nói với họ.

Phải thuộc lòng 12 câu kệ như dưới đây:

Thiền Thanh là Nhất tự Thiền

“Buông, Dừng, Thôi, Dứt” hết liền tử sanh

Ở trong Vật lý đua tranh

Đua tranh càng mạnh, tử sanh kéo mình!

Muốn hết tử sanh phải “Dừng”

“Dừng” tìm “Dừng” kiếm, “Dừng” luôn luận bàn

Tâm “Dừng” thì được bình an

“Dừng” theo Vật lý, muôn ngàn an vui.

Thiền Thanh phải bỏ cái “Tôi”

Vì Tôi là Ngã, luân hồi phải đi

Như Lai dạy Nhất thiền thì

An Tâm là được, việc chi cũng lìa.

Pháp môn Nhất tự thiền này nó là cực Dương. Do đó, người nào nhận được pháp môn Nhất tự thiền này rồi, thì phải tuân thủ 4 không như:

  • Không tranh luận với ai.
  • Không tiếp xúc với những người ham mê: Tiền tài, Danh lợi và Địa vị.
  • Không tiếp xúc với những người tu đạo Tà.
  • Không nói bừa bãi.

Người nào tu theo đạo Nhất tự thiền mà không tuân thủ 4 không nói trên thì thân mạng mình xem như bỏ đi vậy!

Trích: Đức Phật dạy tu Thiền Tông

Chân Không

Chân Không

1630673053

Giác Ngộ là gì? Luân Hồi là sao? Tu sao Giải Thoát?

Người nào tu theo Đạo Phật và muốn thoát khỏi quy luật luân hồi nơi Trái Đất này phải hiểu rõ Giác Ngộ là gì và Giải Thoát là đi về đâu.

Phần 1: Giác Ngộ

Tức 1 vị hiểu biết rõ 10 phần như dưới đây:

  1. Biết được Phật Tánh của mình có gì ?
  2. Hiểu Được Tánh Người có những chi ?
  3. Biết tu sao còn luân hồi ?
  4. Biết tu sao được giải thoát ?
  5. Tạo ra Phước Đức để làm gì ?
  6. Tạo ra Công Đức để làm chi ?
  7. Phải biết nguyên nhân định hình ra "Ngôi Nhà Pháp Thân Thanh Tịnh" cho Một Vị "Phật" ở ?
  8. Phải biết cấu tạo "Kim Thân" của 1 Vị Phật ?
  9. Phải biết 1 Tam Giới cấu tạo như thế nào, và sự sống của 1 Tam Giới ra sao ?
  10. Phải biết 3 việc làm của 1 Vị Phật ?

Phần 2: Luân hồi

1/- Luân là quay chuyển.

2/- Hồi là trở lại chỗ cũ.

A- Như tánh Phật: Đầu tiên ở trong Phật giới, ham muốn vào trái đất, mượn thân con người để tạo công đức trở về Phật giới định hình ra 1 Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và 1 Kim thân Phật, nhưng vì vào thế giới loài Người, ham mê đủ chuyện nên luân chuyển đi khắp nơi trong trái đất và Tam giới, sau cùng rồi cũng Hồi về Phật giới.

B- Như trái đất: Đầu tiên ở điểm A, bị sức hút của điện từ Âm Dương, hút luân chuyển đi một vòng 365 ngày, sau cùng rồi cũng Hồi về điểm A.

C- Như con người: Đầu tiên là con người, ham muốn đủ chuyện trên đời, nên luân chuyển đi các nơi trong Tam giới, sau cùng rồi cũng Hồi trở lại làm thân con người.

Phần 3: Tu sao được giải thoát?

* Người muốn giải thoát, không tu gì cả, mà chỉ cần biết 3 phần như sau:

1/- Nơi trái đất này lúc nào cũng luân chuyển, nếu ai dụng công tu hành là dính theo qui luật luân chuyển của trái đất, gọi là luân hồi.

2/- Cuộc sống hằng ngày như thế nào, cứ như thế mà làm, tức sống thuận theo qui luật nhân quả luân hồi của trái đất.

3/- Khi thuận tiện mới tạo ra công đức một cách bình thường, nhưng phải có chọn lọc.

4/- Khi hết duyên sống nơi thế giới này, nếu muốn về Phật giới, thì được tự tại trở về.
 

Tổng hợp từ: Bộ sách Thiền Tông

Chân Không

Chân Không

1629986216

Đức Phật dạy "tu" Thiền Tông

MỤC LỤC

  1. Lời nói đầu
  2. Kính Mừng Phật Đản
  3. Phân tích 6 Pháp môn Tu trong bài kệ Kính Mừng Phật Đản của Tổ Mã Minh
  4. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy về ý sâu mầu của Pháp môn Thiền tông
  5. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy về cấp giấy chứng nhận cho người đạt được “Bí Mật Thiền Tông”
  6. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy kỹ về Nhân – Quả ai Tu theo Vật lý
  7. Những điều người quyết chí “Tu” theo Thiền tông phải nắm thật rõ
  8. Cuộc đời và Tu hành của Đức Phật
  9. Đức Phật dạy về Mười Pháp Giới của Loài Người
  10. Đức Phật dạy “Tu” Thanh Tịnh Thiền
  11. Lời soạn giả
  12. Một số câu hỏi từ trước đến nay chưa ai hỏi

01. LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa quý độc giả:

Thái  tử Tất Đạt Đa tu hành chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni và thành lập ra đạo Phật. Trong 49 năm, Ngài đi nói về chân thật nơi Thế giới và Vũ trụ này, và dạy 6 pháp môn tu chánh như sau:

Một: Tiểu Thừa

Ai muốn tu biến vật thể từ nhỏ ra lớn hay  trùm khắp. Ngài dạy pháp môn tu thiền “Quán” và “Tưởng”. Pháp môn này, Đức Phật dạy ban đầu nên gọi là Nguyên thủy. Nói theo hình tướng: Pháp môn này thành tựu rất nhỏ nên  gọi là Tiểu thừa. Người dụng công tu để có những hiện tượng lạ như:

– Quán, Tưởng tô nước để trước mặt cho loan ra trùm khắp cả phòng, hoặc là màu đỏ của đóm lửa cây nhang,  loan ra trùm khắp. Pháp môn này hiện nay được rất nhiều nước áp dụng, như:Tích Lan(Sri Lanka). Miến Điện. Lào. Campuchia. Một phần miền Nam Việt Nam.

Hai: Trung Thừa

Đức Phật dạy “Lý luận”. Pháp môn này gọi là “Triết lý Phật Thích Ca”. Người tu theo pháp môn này phần nhiều đi làm Giảng sư:  Lý luận về lời dạy của Đức Phật, cho nhiều người hiểu, chứ về giải thoát, pháp môn này không  biết được! Vì nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.

Ba: Đại thừa

Ai tu muốn tìm hiểu từ vật nhỏ hay lớn và khắp nơi Thế giới hay trong Vũ trụ này, Đức Phật dạy pháp “Nghi” và “Tìm”. Pháp môn này, giúp người tu  biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ hoặc lớn. Người tu biết rất mênh mông trong Vũ trụ, nên gọi là Đại thừa.

Pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ áp dụng và tìm ra được sự thật bên sau vật chất, hay ẩn sâu trong vạn vật, được thành công rất nhiều. Các Nhà Khoa học gọi là “Phát minh”.

Còn người tu theo Phật giáo hiện nay, rất ít người tu pháp môn này, mà chỉ nghe họ nói, mình tu theo Đại thừa Phật giáo, chứ không thấy họ thực hành!

Vì sao không thấy họ thực hành?

– Vì họ không biết!

Khi Đức Phật dạy 3 pháp môn tu: Tiểu, Trung và Đại thừa rồi, những người theo học với Ngài, họ  thắc mắc nên hỏi:

– Kính thưa Đấng Gô-Ta-Ma (cũng gọi là Cồ Đàm): Chúng tôi theo Ngài tu, nghe Ngài dạy các pháp môn: Tiểu, Trung và Đại thừa, nhưng chúng tôi không thấy hợp.Vậy, Ngài có pháp môn tu nào để đến chỗ sung sướng hay có những điều đặc biệt kỳ bí không, xin Ngài chỉ dạy cho chúng tôi?

Đức Phật thấy trong Giáo đoàn của Ngài mỗi ngày một ít người đến học, nên sẵn có người hỏi pháp tu để hưởng sung sướng và kỳ bí, nên Đức Phật dạy thêm 2 pháp môn tu nữa:

Bốn:  Tịnh độ

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Ai muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt hảo, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông ca hót, toàn là những thứ chim quí. Quí ông  tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

Sao gọi là Tịnh Độ?

– Tịnh, là Thanh tịnh.

– Độ, là đưa qua.

Đưa qua đâu?

– Vì các ông đang sống trong ồn ào luân chuyển của Vật lý Thế giới và bị sức hút của Âm Dương, nên không ai an ổn được! Pháp môn tu này đưa các ông đến nơi thanh tịnh, các ông không còn bị luân hồi nữa.

Như Lai dạy các ông cách tu pháp môn này như sau:

Khi Tâm các ông thật sự thanh tịnh, có hiện tượng gì, tức khắc nhận ngay. Nếu không có duyên nhận, liền niệm Phật A Di Đà; mà phải niệm cho đến khi nào Tâm mình không còn một niệm, tức là vô niệm. Đến đây, các ông sẽ thấy được lần thứ 2, liền nhận. Nếu không nhận được nữa, thì thôi, Đức Phật “A Di Đà”  và các vị “Phụ tá” của Ngài sẽ đến rước người niệm về nước của Ngài ở. Cõi của Ngài ở rất thanh tịnh, trang nghiêm và có đủ thứ mà các Ông Bà ham muốn. Vì vậy, nước của Ngài được gọi là “Tịnh Độ”.

Năm: Mật chú

Pháp môn thứ 2 là niệm “Mật chú”: Pháp môn tu này các ông dùng câu “Thần chú” để niệm, các ông cũng niệm liên tục, niệm cho đến khi nào tiếng niệm của các ông không còn nữa, tức khắc các ông bị “rơi vào trạng thái rất kỳ diệu”; cái kỳ diệu đó, ở Thế giới này các ông không tìm thấy bất cứ nơi đâu. Pháp môn niệm Mật chú này, Như Lai gọi là tu “Mật Chú tông”. Khi Tâm được thật sự thanh tịnh rồi, các ông muốn gì, thì những hiện tượng ấy sẽ hiện ra!

Sáu: – Thanh tịnh thiền

Ai muốn tu giác ngộ để được giải thoát, Đức Phật dạy pháp môn tu “Tối Thượng thừa thiền”. Pháp môn này không Quán, không Tưởng, cũng không Lý luận hay không Nghi Tìm gì cả, mà chỉ cần để Tâm tự nhiên:

– “Thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri”.

Khi thuần thục sẽ “bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận”. Đức Phật gọi là “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” cũng gọi là “quê hương chân thật của mỗi người”. Vào đây, không còn bị sức hút của Vật lý Thế giới này nữa, nên được giải thoát!

Người sưu tầm, biên soạn kiêm tác giả NGUYỄN  NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân

Thái  tử Tất Đạt Đa tu hành chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni và thành lập ra đạo Phật. Trong 49 năm, Ngài đi nói về chân thật nơi Thế giới và Vũ trụ này, và dạy 6 pháp môn tu chánh như sau:

  1. Một: Tiểu Thừa
    Ai muốn tu biến vật thể từ nhỏ ra lớn hay  trùm khắp. Ngài dạy pháp môn tu thiền “Quán” và “Tưởng”. Pháp môn này, Đức Phật dạy ban đầu nên gọi là Nguyên thủy. Nói theo hình tướng: Pháp môn này thành tựu rất nhỏ nên  gọi là Tiểu thừa. Người dụng công tu để có những hiện tượng lạ như:
    – Quán, Tưởng tô nước để trước mặt cho loan ra trùm khắp cả phòng, hoặc là màu đỏ của đóm lửa cây nhang,  loan ra trùm khắp. Pháp môn này hiện nay được rất nhiều nước áp dụng, như:Tích Lan(Sri Lanka). Miến Điện. Lào. Campuchia. Một phần miền Nam Việt Nam.
  2. Hai: Trung Thừa
    Đức Phật dạy “Lý luận”. Pháp môn này gọi là “Triết lý Phật Thích Ca”. Người tu theo pháp môn này phần nhiều đi làm Giảng sư:  Lý luận về lời dạy của Đức Phật, cho nhiều người hiểu, chứ về giải thoát, pháp môn này không  biết được! Vì nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.
  3. Ba: Đại thừa
    Ai tu muốn tìm hiểu từ vật nhỏ hay lớn và khắp nơi Thế giới hay trong Vũ trụ này, Đức Phật dạy pháp “Nghi” và “Tìm”. Pháp môn này, giúp người tu  biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ hoặc lớn. Người tu biết rất mênh mông trong Vũ trụ, nên gọi là Đại thừa.
    Pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ áp dụng và tìm ra được sự thật bên sau vật chất, hay ẩn sâu trong vạn vật, được thành công rất nhiều. Các Nhà Khoa học gọi là “Phát minh”.

    Còn người tu theo Phật giáo hiện nay, rất ít người tu pháp môn này, mà chỉ nghe họ nói, mình tu theo Đại thừa Phật giáo, chứ không thấy họ thực hành!
    Vì sao không thấy họ thực hành?
    – Vì họ không biết!

    Khi Đức Phật dạy 3 pháp môn tu: Tiểu, Trung và Đại thừa rồi, những người theo học với Ngài, họ  thắc mắc nên hỏi:
    – Kính thưa Đấng Gô-Ta-Ma (cũng gọi là Cồ Đàm): Chúng tôi theo Ngài tu, nghe Ngài dạy các pháp môn: Tiểu, Trung và Đại thừa, nhưng chúng tôi không thấy hợp.Vậy, Ngài có pháp môn tu nào để đến chỗ sung sướng hay có những điều đặc biệt kỳ bí không, xin Ngài chỉ dạy cho chúng tôi?

    Đức Phật thấy trong Giáo đoàn của Ngài mỗi ngày một ít người đến học, nên sẵn có người hỏi pháp tu để hưởng sung sướng và kỳ bí, nên Đức Phật dạy thêm 2 pháp môn tu nữa:
  4. Bốn:  Tịnh độ
    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Ai muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt hảo, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông ca hót, toàn là những thứ chim quí. Quí ông  tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

    Sao gọi là Tịnh Độ?
    – Tịnh, là Thanh tịnh.
    – Độ, là đưa qua.

    Đưa qua đâu?
    – Vì các ông đang sống trong ồn ào luân chuyển của Vật lý Thế giới và bị sức hút của Âm Dương, nên không ai an ổn được! Pháp môn tu này đưa các ông đến nơi thanh tịnh, các ông không còn bị luân hồi nữa.

    Như Lai dạy các ông cách tu pháp môn này như sau:
    Khi Tâm các ông thật sự thanh tịnh, có hiện tượng gì, tức khắc nhận ngay. Nếu không có duyên nhận, liền niệm Phật A Di Đà; mà phải niệm cho đến khi nào Tâm mình không còn một niệm, tức là vô niệm. Đến đây, các ông sẽ thấy được lần thứ 2, liền nhận. Nếu không nhận được nữa, thì thôi, Đức Phật “A Di Đà”  và các vị “Phụ tá” của Ngài sẽ đến rước người niệm về nước của Ngài ở. Cõi của Ngài ở rất thanh tịnh, trang nghiêm và có đủ thứ mà các Ông Bà ham muốn. Vì vậy, nước của Ngài được gọi là “Tịnh Độ”.
  5. Năm: Mật chú
    Pháp môn thứ 2 là niệm “Mật chú”: Pháp môn tu này các ông dùng câu “Thần chú” để niệm, các ông cũng niệm liên tục, niệm cho đến khi nào tiếng niệm của các ông không còn nữa, tức khắc các ông bị “rơi vào trạng thái rất kỳ diệu”; cái kỳ diệu đó, ở Thế giới này các ông không tìm thấy bất cứ nơi đâu. Pháp môn niệm Mật chú này, Như Lai gọi là tu “Mật Chú tông”. Khi Tâm được thật sự thanh tịnh rồi, các ông muốn gì, thì những hiện tượng ấy sẽ hiện ra!
  6. Sáu: Thanh tịnh thiền
    Ai muốn tu giác ngộ để được giải thoát, Đức Phật dạy pháp môn tu “Tối Thượng thừa thiền”. Pháp môn này không Quán, không Tưởng, cũng không Lý luận hay không Nghi Tìm gì cả, mà chỉ cần để Tâm tự nhiên:
    – “Thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri”.
    Khi thuần thục sẽ “bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận”. Đức Phật gọi là “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” cũng gọi là “quê hương chân thật của mỗi người”. Vào đây, không còn bị sức hút của Vật lý Thế giới này nữa, nên được giải thoát!

Người sưu tầm, biên soạn kiêm tác giả NGUYỄN  NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân

Nguồn: Thiền Tông

#thientong #giacngo #giaithoat #nhattuthien

Chân Không

Chân Không

1630393851

Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền Tông

Những người tìm hiểu hay tu theo đạo Phật, ít có người nghe đến hai danh từ Huyền Ký của Đức Phật dạy.

Vì sao vậy?

– Vì tập Huyền Ký này, Đức Phật dạy vào một năm sau cùng trước khi Đức Phật nhập Niết bàn. Đức Phật chỉ dạy riêng cho 15 đệ tử của Ngài là những vị đã giác ngộ “Yếu chỉ Thanh Tịnh Thiền” trở lên. Sau cùng, Đức Phật trao tập Huyền Ký này cho ông Ma Ha Ca Diếp, là vị Tổ Thiền tông đời thứ Nhất, nhờ vị Tổ này truyền riêng theo dòng Thiền tông. Vì vậy, các kinh điển phổ thông chúng ta không thấy tập Huyền Ký này là vậy.

Vì sao Đức Phật không truyền theo các kinh điển phổ thông?

Chúng tôi xin trích một phần nhỏ nguyên nhân mà Đức Phật dạy trong tập Huyền Ký của Ngài như sau:

Ngày xưa, tín ngưỡng của dân nước Ấn Độ chia ra làm 2 thành phần:

Thành phần thứ nhất:

* Những người bình dân họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Thượng Đế” sinh ra.

– Con người và vạn vật cũng do Thượng Đế làm ra.

– Hai bên “Vai giáp” của mỗi con người có 2 vị “Thần chấm điểm” việc làm thiện hay ác của con người.

– Khi con người chết đi, thì được các vị “Phán quan” xem việc làm thiện và ác của họ ở mức độ nào mà trình với “Vua Diêm Vương”:

– Nếu họ làm thiện nhiều, thì được Vua Diêm Vương trình lên Thượng Đế cho lên “Thiên Đàng” ở hưởng sung sướng đời đời.

– Còn làm ác nhiều, thì Vua Diêm Vương tự Ngài sai “Ngưu Đầu Mã Diện” đem giam vào các tầng Địa Ngục để trị tội.

Thành phần thứ hai:

* Những người tu hành họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Đấng Tạo Hóa” sanh ra.

– Loài người và vạn vật cũng do Đấng Tạo Hóa làm nên.

– Họ cũng tin tưởng: Loài người sống nơi trái đất này có 2 con đường đi sau khi chết:

Một: Làm thiện thì được lên cõi Trời hưởng phước.

Hai: Làm ác phải bị đày vào Địa Ngục để thọ lãnh quả xấu do họ tự tạo ra nơi thế giới này.

Do vậy:

Dạng người tu hành thứ nhất:

– Họ chủ trương làm 2 việc như sau:

Một: Mỗi ngày phải “Sám hối” những việc làm sai trái của họ.

Hai: Cầu xin Đấng Tạo Hóa rước họ về “Nước Trời” ở để không còn bị khổ ở Thế gian này nữa.

Dạng người tu hành thứ hai: Họ tin tưởng rằng:

– Muốn hết tội lỗi do mình làm ra, duy nhất chỉ xuống sông Hằng tắm cho sạch thì mới hết tội lỗi được.

– Và nhiều tín ngưỡng khác nữa.

Trên đây là người xưa của nước Ấn Độ tin và làm như vậy.

Mục Lục

  1. Lời giới thiệu
  2. Cấu trúc Càn khôn vũ trụ
  3. Các hành tinh có sự sống
  4. Quy luật luân hồi nơi Trái đất
  5. Cõi trời Ngọc Hoàng Thượng Đế
  6. Bảng phân loại Tần số 18 Tầng Địa Ngục
  7. Cách hình thành một Trung Ấm Thân
  8. Bài sám hối theo Thiền tông
  9. Đức Phật truyền Bí mật thanh tịnh thiền cho Ma Ha Ca Diếp
  10. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông – P1
  11. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông – P2
  12. Bài kệ 60 câu Đức Phật dạy về những gì trong Tánh Phật
  13. Bài kệ 20 câu của Thiền sư Ni Đức Thảo
  14. Bài kệ ngộ Thiền của Tiền Thân Đức Phật ở Trời Đâu Suất
  15. Ngài A Nan trình với Đức Phật
  16. Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận Tập Huyền ký của Đức Phật
  17. Điều kiện cấp giấy và phong Thiền
  18. Đức Phật dạy về Tập Huyền Ký
  19. Ngài Ma Ha Ca Diếp hỏi về cất chùa?
  20. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về Tâm thanh tịnh?
  21. Ngài Phú Lâu Na hỏi về Bồ Tát?
  22. Ngài A Nan hỏi về chùa?
  23. Tỳ kheo Phất Trần Thi hỏi về Trái đất?
  24. Tỳ kheo A Lạt Đề hỏi về 37 pháp quán trợ đạo?
  25. Tỳ kheo Trường An Thịnh hỏi về Càn khôn vũ trụ?
  26. Tỳ kheo Lễ Thành An hỏi về Bồ Tát và A La Hán?
  27. Cư sỹ Liên Trường Phát hỏi về Kiến Tánh?
  28. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về nhìn thấy Bể Tánh?
  29. Cư sỹ Lương Khánh Hoàng hỏi về tự tu tập?
  30. Tỳ kheo Uất Phương Lam hỏi về Thượng Đế?
  31. Cư sỹ Lưỡng Hành Tuyền hỏi về khấn nguyện?
  32. Ngài Ca Chiên Diên hỏi về  Lời nguyền của Ma Vương?
  33. Cư sỹ Lễ Trân Châu hỏi về quy luật luân hồi của Trái đất?
  34. Tỳ kheo A Luật Đà hỏi về Trung Ấm Thân?
  35. Ngài A Nan hỏi Đức Phật 5 câu?
  36. Tám phần dạy sau cùng của Đức Phật
  37. Đức Phật dạy thêm về Tập Huyền ký
  38. Bài kệ Kính mừng Phật Đản của Tổ Mã Minh
  39. Buổi lễ công bố Huyền ký của Lục Tổ Huệ Năng
  40. Tổ Thiền tông Việt Nam
  41. Giới thiệu chùa Thiền tông Tân Diệu
  42. Tôn chỉ – Cương Lĩnh của chùa Thiền tông Tân Diệu
  43. Nội qui của chùa Thiền tông Tân Diệu
  44. Lời giải bày của viện chủ chùa Thiền tông Tân Diệu
  45. Bài kệ phong Thiền gia cho soạn giả
  46. Đức Phật dạy riêng cho Thiền tông gia
  47. Lời dạy của Đức Phật
  48. Các ấn phẩm đã xuất bản

Xem thêm: Thiền Tông

#thientong #giacngo #giaithoat