Chân Không

Chân Không

1631535595

4 loại Đức và công dụng của mỗi loại

– TỚI GIỜ CHÚNG CHÁU VẪN CHƯA BIẾT ĐƯỢC CÔNG ĐỨC CỦA 1 NGƯỜI CẤU TẠO BẰNG CHẤT GÌ?

CÔNG ĐỨC LÀ KHÔNG ÂM KHÔNG DƯƠNG, NẾU GIẢI THÍCH THEO KHOA HỌC THÌ NGƯỜI CÓ CÔNG ĐỨC LÀ CHẤT GÌ TRONG TAM GIỚI, THƯA BÁC?

Bác Nguyễn Nhân trả lời:

– Ở Trái đất này có 4 loại Đức, sử dụng cho 4 nơi như:

  1. + Phước Đức Dương: Sử dụng ở các cõi Trời.
  2. + Phước Đức Âm: Sử dụng ở trên mặt đất.
  3. + Ác Đức: Sử dụng ở dưới mặt đất và dưới lòng đất. Vì vậy có câu: Người nghèo sát đất!
  4. + Công Đức: Sử dụng ở Phật Giới.

– Tất cả các Đức này không ví dụ được, mà chỉ thấy kết quả của nó như sau:

  1. 1. Phước Đức Dương: Vãng sanh lên các cõi Trời hưởng Phước.
  2. 2. Phước Đức Âm: Làm người giàu sang ở trên mặt đất hưởng Phước.
  3. 3. Ác Đức: Làm người nghèo khổ sát mặt đất và dưới lòng đất!
  4. 4. Công Đức: Đem về Phật Giới, định hình ra ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và Kim Thân Phật, hưởng quả vị Phật.

Trích: GIẢI ĐÁP TUYỆT MẬT CHO NGUYỄN THÀNH TÀI, TP. HỒ CHÍ MINH. Giải đáp Thiền Tông ngày 12/09/2021

Website: https://thientong.com/ufo/

#thientong #giacngo #giaithoat #giaidapthientong #chankhong

4 loại Đức và công dụng của mỗi loại
Chân Không

Chân Không

1631535595

4 loại Đức và công dụng của mỗi loại

– TỚI GIỜ CHÚNG CHÁU VẪN CHƯA BIẾT ĐƯỢC CÔNG ĐỨC CỦA 1 NGƯỜI CẤU TẠO BẰNG CHẤT GÌ?

CÔNG ĐỨC LÀ KHÔNG ÂM KHÔNG DƯƠNG, NẾU GIẢI THÍCH THEO KHOA HỌC THÌ NGƯỜI CÓ CÔNG ĐỨC LÀ CHẤT GÌ TRONG TAM GIỚI, THƯA BÁC?

Bác Nguyễn Nhân trả lời:

– Ở Trái đất này có 4 loại Đức, sử dụng cho 4 nơi như:

  1. + Phước Đức Dương: Sử dụng ở các cõi Trời.
  2. + Phước Đức Âm: Sử dụng ở trên mặt đất.
  3. + Ác Đức: Sử dụng ở dưới mặt đất và dưới lòng đất. Vì vậy có câu: Người nghèo sát đất!
  4. + Công Đức: Sử dụng ở Phật Giới.

– Tất cả các Đức này không ví dụ được, mà chỉ thấy kết quả của nó như sau:

  1. 1. Phước Đức Dương: Vãng sanh lên các cõi Trời hưởng Phước.
  2. 2. Phước Đức Âm: Làm người giàu sang ở trên mặt đất hưởng Phước.
  3. 3. Ác Đức: Làm người nghèo khổ sát mặt đất và dưới lòng đất!
  4. 4. Công Đức: Đem về Phật Giới, định hình ra ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và Kim Thân Phật, hưởng quả vị Phật.

Trích: GIẢI ĐÁP TUYỆT MẬT CHO NGUYỄN THÀNH TÀI, TP. HỒ CHÍ MINH. Giải đáp Thiền Tông ngày 12/09/2021

Website: https://thientong.com/ufo/

#thientong #giacngo #giaithoat #giaidapthientong #chankhong

Chân Không

Chân Không

1630567677

Công Đức Và Phước Đức Khác Nhau Như Thế Nào?

CÔNG ĐỨC VÀ PHƯỚC ĐỨC KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Cụ ông Lương Thành Đạt, 78 tuổi, ở Thái Bình, hỏi Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

- Kính thưa đức vua, làm sao tạo ra công đức và làm sao tạo ra phước đức?

Đức vua trả lời:

Muốn có PHƯỚC ĐỨC, cụ bố thí hay giúp đỡ người khác bớt khổ là cụ có phước đức.

Công dụng của phước đức:

Ở trái đất này: Cụ mua nhà cửa ruộng vườn.

Còn cụ ham muốn vãng sanh lên cõi Trời hay nước Cực Lạc để hưởng nghiệp "phước đức Dương" để sống ở đây.

Nếu cụ ham muốn làm Thần hay người giàu sang gọi là nghiệp "Phước đức Âm".

Còn muốn tạo CÔNG ĐỨC cụ phải tìm hiểu 4 phần như sau:

  1. Tánh Phật là gì và cấu tạo như thế nào?
  2. Tánh người là sao có mấy thứ?
  3. Tu sao được giải thoát?
  4. Tu sao còn bị luân hồi?

Chỉ cần cụ thông hiểu 4 phần trên đi nói lại cho người khác biết, nếu người khác cũng thông hiểu như cụ là cụ có công đức.

Công dụng của công đức:

Để khi trở về Phật giới định hình ra một Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh và hình thành ra một kim thân Phật.

Đức vua liền tặng cho cụ Lương Thành Đạt 12 câu kệ như sau:

Trong nhà có báu không xài

Cầu xin, khấn lạy, lạy hoài mệt thân

Thiền tông, Phật dạy không cần

Chỉ cần thanh tịnh thoát vòng trầm luân!

Cắm đầu mà lạy không ngừng

Lạy chi phí sức không "Dừng" được đâu

Thiền tông Phật dạy không cầu

Muốn về quê cũ không cầu lạy ai.

Muốn thoát sanh tử trần ai

Sống với Phật tánh trần ai không màng

Bỏ đi những chuyện thế gian

Tức khắc giải thoát Niết bàn hiện ra.

Cụ Lương Thành Đạt nghe đức vua giải thích quá rõ, vô cùng cảm ơn.

[Cách tạo công đức trong sáng]

Trích quyển 11 "Đức Vua Trần Nhân Tông dạy con cách giữ nước và công thức giải thoát"

Chân Không

Chân Không

1630561541

Công Đức là gì? Bằng cách nào tạo Công Đức trong sáng?

Công Đức là gì? Tạo ra công đức để làm chi? Bằng cách nào tạo Công Đức trong sáng?

Đức Phật dạy:

Người muốn tạo ra công đức, thì trước hết phải:

  • Hiểu giác ngộgiải thoát là gì?
  • Nhận được Phật tánh thanh tịnh của chính mình.
  • Nói lại cho người khác biết.
  • Nếu người nghe các ông nói đó, họ nhận ra tánh Phật thanh tịnh của họ, là các ông đã có công đức rồi vậy.

Tạo ra công đức để làm chi?

- Công đức chính là “vật tư” để tạo ra “Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh” để người giải thoát ở, cũng từ Ngôi nhà Pháp thân thanh tịnh này, định hình ra 1 vị Phật lớn hay nhỏ là do công đức của người đó tạo ra ở nơi Thế giới loài Người.

Công Đức là cái lực sáng. Công đức, Phước Đức, Ác Đức khác nhau, và đều là bằng điện:

  1. Công Đức được hình thành bởi Điện Từ Quang.
  2. Phước Đức được hình thành bởi Điện Từ Dương.
  3. Ác Đức được hình thành bởi Điện Từ Âm.

Trong Thế giới này có 3 cái loại điện : Điện Từ Quang, Điện Từ DươngĐiện Từ Âm.

Còn điện từ mà mình đang sử dụng hằng ngày là điện từ vật lý dùng để phục vụ, nó không có nằm ở trong thế giới luân chuyển, đây là do con người tạo ra để sử dụng trong thời gian ngắn gọi là điện từ vật lý.

Công Đức có cấu tạo bằng Điện Từ Quang, Điện từ Quang có ở trong này, vậy Điện từ Âm Dương lấy từ đâu?

- Điện từ Quang mà quay là trở thành điện từ Âm Dương.

Trích quyển 7 "Đức Phật dạy tu Thiền Tông"

— 

PHẬT TỬ HỎI THẦY TẠI CHÙA THIỀN TÔNG TÂN DIỆU.

THƯA THẦY, CÁCH TẠO CÔNG ĐỨC TRONG SÁNG LÀ NHƯ THẾ NÀO Ạ?

Thầy trả Lời:

Bây giờ đưa sách, đưa máy cho người ta nghe Thiền Tông, rồi đừng có nói gì hết đó,

Rồi cái người nào mà thích, mà hiểu, hiểu được như thế nào là giải thoát, là mình có công đức đó.

Còn người không thích thì thôi, rồi làm thinh luôn không có nói, được cũng không mừng mà không được cũng không buồn.

Được mà nói "nhờ tôi này kia nọ", là rồi chết, mình nói “nhờ tôi” 1 cái là công đức bị bôi đen liền.

Thành ra trong dân gian có câu là “thi ân bất cầu báo”. Cho rồi thôi, đừng có nói gì hết, tự động dùng cái câu này để mình sử dụng bất cứ cái gì trên thế gian này.

Cho người ta rồi đừng có chấp cái gì hết đó, gọi là trong dân gian có nói là “thi ân bất cầu báo”, nên tìm cái câu này học thì công đức không bị bôi đen.

Trích: Giải đáp Thiền Tông

[ Phân biệt giữa công đức và phước đức: https://youtu.be/zFkf2OPDoHo?list=PLOtXQ1m0FkHBznsB6CNKiviyow3q1XBp9]

#thientong 

Chân Không

Chân Không

1630422143

Nếu không dụng công làm sao nhận ra Phật Tánh của chính mình?

27- CỤ ÔNG TRANG THẾ QUAN, Sanh 1927, tại Cần Thơ, cư ngụ tại Tp. Hamboug, đức. Ngộ "Yếu chỉ Thiền tông", nhờ cụ hỏi:

- Như Trưởng ban dạy, tu theo Thiền tông không được dụng công, Nếu không dụng công làm sao nhận ra Phật tánh của chính mình?

Trưởng ban trả lời:

- Người tu thiền theo đạo Phật, Đức Phật có chỉ 3 pháp môn thiền căn bản:

  1. * Một là thiền Tiểu thừa.
  2. * Hai là thiền đại thừa.
  3. * Ba là Thiền tông.

Thiền tiểu thừa là dùng pháp quán và tưởng từ vật nhỏ ra lớn hoặc ngược lại, quán, tưởng này là cốt để thành tựu những gì mà người tu muốn, cốt ý của người tu là muốn có thần thông để đi khoe với mọi người. Thiền trung thừa là lý luận những hiện tượng có nơi Thế giới này một cách chuẩn xác. cốt yếu là để đi khoe với mọi người: " Ta là người lý luận bật nhất!"

Thiền đại thừa là nghi, hoặc tìm, cái gì núp bên trong vật chất nào đó, khi nghi hoặc tìm được rồi, liền đi khoe với những người xung quanh, cốt yếu người tu là muốn chứng minh cho mọi người biết là ta đã chứng được đạo. Biết được tận cùng hữu dụng của vật chất.

Thiền tông không làm như các thứ trên, mà cứ để tâm mình thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri.

Phần này, tôi dùng ví dụ sau đây nếu cụ chú ý, có duyên lớn sẽ giác ngộ "Yếu chỉ Thiền tông":

Như nước trong ao hoặc hồ bị vẫn đục, không thấy được hình bóng màu xanh của trời, màu trắng của mây. Nếu ai đó múc hết nước đục trong ao hay hồ đổ đi, thử hỏi, có thấy được nước trong trong ao hay hồ không?

Những người có mặt đều đồng nói là không.

Trưởng ban giải thích:

Muốn thấy được bóng của mây trắng và màu xanh da trời, duy nhất là đừng động đến nước trong ao hoặc hồ, cứ tự nhiên bùn đất lắng xuống, tự nhiên các bóng ấy sẽ hiện ra.

Đối với Phật tánh cuả mỗi con người cũng vậy.

Trong Phật tánh vốn tự nhiên thanh tịnh, sáng suốt, rỗng lặng, trùm khắp, hằng tri, nhưng vì bị những thứ vọng tưởng trồi lên sụt xuống làm cho cái trong sáng của Phật tánh mất đi tự nhiên thanh tịnh trong sáng suốt.

Nếu chúng ta loại bỏ những thứ vọng tưởng giống như chúng ta múc nước đục và nước trong đổ đi vậy. Chúng ta chỉ cần đễ yên tất cả. Vọng tưởng lắng xuống, nó trở về bản chất tự nhiên của nó, nếu chúng ta can thiệp vào để dẹp nó, tức chúng ta can thiệp vào sự chuyển biến của Vật lý nơi Thế giới này.

Theo Vật lý Trần gian này, thứ nào cũng có ngôi vị của nó, Từ Phật tánh đến tứ đại, cũng như những thứ trong tánh người, thứ nào cũng có ngôi vị của nó cả. Nếu chúng ta sử dụng công tu hành bất cứ pháp môn nào mà sử dụng những thứ trong Vật lý, đều là chúng ta bồi thêm một lớp của Vật lý lên tánh Phật của chúng ta nữa, chúng ta đã bị ảo giác trong Vật lý này bao phủ rồi, mà còn đem những thứ trong Vật lý này trùm thêm lên nữa, chúng ta đã không thấy sự thật lại càng không thấy nữa!

Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật dạy:

-" Chư Pháp trụ pháp dị, tướng Thế gian thường còn". có nghĩa là các tướng của Thế gian lúc nào cũng trụ nơi ngôi vị của nó, và lúc nào các tướng ấy vẫn thường còn, vì thường còn thường còn nên mới có vạn vật, có vạn vật nên mới có luân hồi. Người tu theo đạo phật: không dừng bất cứ thứ gì, mà người tu chỉ cần: Tâm cảnh không dính nhau là giải thoát rồi. Phần này trong kinh Kim Cang Đức Phật dạy rất rõ.

Ông hãy nghe lời dạy rõ thêm của Đức Phật:

- Tâm cảnh không dính nhau, đạo bồ đề chắc chắn sẽ thành.

Đức Phật đã dạy như vậy mà chúng ta không nghe lời Ngài, lại đem cái đầu học hỏi theo vật lý của tánh Người xen vào, xen càng nhiều, thì cái thanh tịnh của Phật tánh càng bị phủ mờ đi!

Chúng ta sống trong nghiệp lực quá dày, không chịu bỏ bớt mà lại mỗi ngày mỗi tạo thêm, thật là khổ chồng thêm khổ. Bởi vậy Đức Phật bảo: Chúng ta là kẻ đáng thương!

Ở Thế gian này, ai tạo nghiệp bắt buộc phải bị nghiệp lực lôi kéo; còn ai muốn trở về sống với Phật tánh thanh tịnh của chính mình thì đừng tạo nghiệp, tự nhiên Phật tánh hiển lộ, không cần đi tìm nơi nào cả. Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy qúa rõ: Người tu mà dụng công đi tìm Phật tánh, giống như đi tìm lông con rùa và sừng con thỏ vậy!"

Người nào muốn Phật tánh hiển lộ, mỗi ngày chúng ta chỉ cần để tâm thanh tịnh , rỗng lặng và hằng tri, làm như vậy được thuần thục, một ngày nào đó, trong tâm ông bỗng sáng lên , hiện ra những gì kỳ đặc, còn thân ông như không có, không dùng ngôn từ gì của Trần gian này mà diễn nói được. người tu đến chỗ này gọi là ngộ đạo, còn nói theo chuyên môn Nhà Thiền gọi là nhận được cái thanh tịnh phật tánh của chính mình.

Vừa nghe các lời giải thích trên, cụ Trang Thế Quan thoạt nhiên giác ngộ "Yếu chỉ Thiền tông", một số người đi theo đoàn cũng giác ngộ theo.

Ông Trang Thế Quan liền làm bài thơ để trình chỗ sở ngộ của mình:

Thơ rằng:

Phật tánh hằng thanh tịnh.

Suy nghĩ cứ suy nghĩ.

Suy nghĩ trong thanh tịnh.

Không bị hút Âm Dương.

Cũng từ Phật tánh ấy.

Suy nghĩ chồng suy nghĩ.

Là suy nghĩ vô minh.

Đây, Luân hồi sinh tử.

Đức Phật dạy rõ ràng:

Hai thứ này vô trụ.

Chúng sanh mê muội ngủ.

Nhận có vọng có chơn.

Nên tìm đường giải thoát.

Tìm đường này đường nọ.

Để tránh xa luân hồi.

Về nơi thanh tịnh ở.

Như đi tìm sừng thỏ.

Đi kiếm long con rùa.

Chỉ bỏ vọng bỏ chơn.

Phật tánh liền thể hiện.

Ông Trang Thế Quan vừa trình xong bài thơ 20 câu, Trưởng ban nói:

- Hôm nay ông đả biết tu theo pháp môn Thiền tông, tôi xác nhận ông đã giác ngộ "Yếu chỉ Thiền tông"và cấp luôn cho ông giấy chứng nhận đạt được "Bí mật Thiền tông" tuần sau sẽ làm lễ truyền Bí mật Thiền tông cho ông, chúng tôi sẽ cung cấp cho ông tất cả những gì mà Như lai đã dạy trong Sách Trắng Thiền Tông và Huyền ký của Ngài.

Ông Trang Thế Quan hết sức vui mừng và cám ơn Trưởng ban.

Trích quyển 5: Khai Thị Thiền Tông - Nhà Xuất Bản Tôn Giáo. Trang: 198-199-200-201-202-203. Thiền Gia, Soạn Giả: Nguyễn Nhân.

Chân Không

Chân Không

1629906979

Cuộc đời của Đức Phật bị luân hồi và thành Phật

Sách Trắng Thiền Tông

01. Bài kệ 12 câu của Đức Phật dạy
02. Phật Giới
03. Tam Giới
04. Giải thích Cõi Trời Vô Sắc
05. Giải thích Cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ
06. Giải thích Cõi Trời Dục Giới
07. Địa cầu là nơi 5 loài sống chung – Ngũ Thú Tạp Cư
08. Đức Phật kể Ngài bị luân hồi trong Tam Giới, sau cùng thành Phật
09. Những lời dạy tuyệt mật để lưu lại hậu thế theo dòng Thiền tông

MỞ ĐẦU LÀ BÀI KỆ 12 CÂU CỦA ĐỨC PHẬT DẠY

Phật giới gồm có những chi?
Càn khôn Vũ trụ có chi phải tường?
Tam giới phải rõ thông đường
Người tu theo Phật rõ đường để đi.

Tánh Người phải biết là chi?
Ở trong tánh Phật có gì phải thông?
Phải rõ luân chuyển trong Trần
Giải thoát ra khỏi đường Trần là an.

Như Lai dạy rất rõ ràng
Không chịu tìm hiểu nói càng kiếm danh
Cứ mãi lường gạt đua tranh
Cứ đi, đi mãi loanh quanh luân hồi!

Mười hai câu kệ trên đây, là của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ông Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông tuyệt mật. Để cung cấp cho các vị Tổ Thiền tông làm căn bản về pháp môn Thiền tông học. Sau các đời Tổ sư Thiền tông truyền lại cho Thiền tông sư và Thiền tông gia làm bản gốc dạy pháp môn Thiền tông học này.
Đức Thế Tôn dạy tiếp 12 câu kệ: 
Sự sống vị Phật là sao?
Sự sống Tam giới là sao phải tường?
Tu Phật phải rõ thông đường
Luân hồi sinh tử không vươn làm gì.

Tu phước là để được chi?
Tạo ra công đức làm gì phải thông?
Tu sao còn dính trong Trần?
Tu sao giải thoát mười phần phải thông?

Ngồi thiền Quán, Tưởng, Cầu mong
Nhìn trong Tam giới mà không hiểu gì
Thiền tông Phật dạy để chi?
Phải biết thật rõ hết đi luân hồi!  

PHẦN MỘT: Phật giới:

– Nói không gian trùm khắp không biên giới.
– Gọi là “Bể tánh Thanh tịnh”.
– Trong Bể tánh Thanh tịnh có các phần như sau:
 

Một: Điện từ Quang trùm khắp, làm sự sống cho:
1-Tánh Phật
2-Các vị Phật.
3-Cấu tạo vỏ bọc của tánh Phật.

Hai:  Trong Phật giới có Hằng hà sa số cái Ý.
Cái Ý này tự nhiên có đầy khắp trong Phật giới.
Cái Ý này tự nó có 4 phần:
1- Lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.
2- Lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe.
3- Lúc nào cũng rung động, muốn phát ra tiếng thì có tiếng, gọi là hằng Pháp.
4-Lúc nào cũng biết, gọi là hằng Tri.

PHẦN HAI: Tam giới:
Một vùng rất nhỏ trong Càn khôn Vũ trụ phải hiểu như sau:
Một Thái dương hệ gọi là 1 Tam giới, gồm có:
– Một ngàn Thái dương hệ gọi là 1 Tiểu thiên thế giới.
– Một Tiểu thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 tỷ Tam giới, gọi là 1 Trung thiên thế giới.
Trung thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 ngàn tỷ Tam giới, gọi là Đại thiên thế giới.
Mà Như Lai nhìn thấy trong Càn khôn Vũ trụ này có Hằng hà sa số Tam thiên Đại thiên thế giới. Đồng nghĩa, đem số cát của mấy  tỷ sông Hằng ra đếm, thì số cát của mấy tỷ sông Hằng cũng không bằng số Tam thiên Đại thiên thế giới nữa, mà Tam thiên Đại thiên thế giới nó nằm trong Càn khôn Vũ trụ.
Trong 1 Tam giới có 45 hành tinh chia ra như sau:
Một: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, gọi là “Cõi Trời Vô Sắc”.
Hai/A: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương, gọi là “Cõi Trời Hữu Sắc”.
Hai/B: Trong cõi trời Hữu Sắc rực rỡ này, có 6 hành tinh rất thanh tịnh, gọi là “Lục Quốc Tịnh Độ”.
Ba: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 5 màu sắc điện từ Âm Dương thật đậm, cường lực rất mạnh, nên gọi là “Cõi Trời Dục Giới”.
Bốn: Có 6 hành tinh, cấu tạo bằng “Tứ đại”: Đất – Nước – Gió – Lửa. Nơi 5 loài sống chung, tức “Ngũ thú tạp cư”, gọi là Địa cầu.
Một Tam giới mà đã có nhiều hành tinh như vậy. Ai đó bảo: Càn khôn Vũ trụ này là do họ làm ra, là không đúng sự thật.

PHẦN BA: Giải thích cõi trời Vô Sắc:
Vì sao gọi là cõi trời Vô Sắc?
– Vì cõi trời này cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, rất thanh tịnh. Do đó, sự sống ở cõi trời này rất thanh tịnh.
Gồm có 11 hành tinh:
1- Trời Vô Lượng Nghiêm Sức.
2- Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt.
3- Trời Vô Tưởng.
4-Trời Vô Phiền.
5- Trời Vô Nhiệt.
6- Trời Thiện Kiến.
7- Trời Thiện Hiện.
8- Trời Sắc Cứu Cánh.
9- Trời Ma Hê Thủ La.
10- Trời Phi Phi Tưởng.
11- Trời Phi Phi Tưởng Xứ.
– Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Vô Sắc”.
– Người sống ở cõi trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này, vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ cũng tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
– Việc làm ở cõi Trời này có việc như sau:
Trời nam và Trời nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Trời con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Chứa trong Trung Ấm Thân này, là cái vỏ bọc tánh Phật.
Trung Ấm Thân của con người làm gì mà được vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này?
– Vì Trung Ấm Thân khi còn sống ở thế giới loài Người thích làm 3 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi thanh tịnh.
3- Ngồi thiền ép cho tâm Vật lý được thanh tịnh.
Ở thế giới loài Người, ai muốn sống nơi thanh thịnh thì thực hành ba phần nói trên. Tức tự tạo ra làn sóng nghiệp thanh tịnh. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, thì được làn sóng nghiệp do mình tự tạo ra đó, nó tự động hút đưa mình đến cõi Trời Vô Sắc này.
Một vị Trời ở cõi Trời Vô Sắc này được sanh ra như sau:
Trung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích thanh tịnh, đến với cõi Trời Vô Sắc này. Đầu tiên, phải tìm đến đôi Trời nam và nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 900 năm, 10 ngàn ngày. Sau đó, được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
Vị Trời con sống nơi cõi Trời Vô Sắc này có 4 việc làm như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Dụng công tọa thiền để thụ hưởng cái an vui kỳ diệu do mình dụng công tọa thiền mà có.
3- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Vô Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
4- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
– Tuổi thọ của loài Trời Vô Sắc này là 100 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
– Ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 4 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều để tạo “Nghiệp thiện”.
B-Cầu mong được sống nơi thanh tịnh.
C_Tọa thiền, dụng công ép cho thân mình khô kiệt.
D- Ép cho tâm Vật lý không còn suy nghĩ.

Ai thực hiện đúng 4 phần nói trên, khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến sống 1 trong 11 hành tinh Vô Sắc này.


PHẦN BỐN: Giải thích cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ:
Cõi Trời Hữu Sắc có 11 hành tinh:

1-Trời Đại Phạm.
2-Trời Thiểu Quang.
3- Trời Vô Lượng Quang.
4- Trời Quang Âm.
5- Trời Thiểu Tịnh.
6-Trời Vô Lượng Tịnh.
7-Trời Biến Tịnh.
8-Trời Phước Sanh.
9-Trời Phước Ái.
10- Trời Quãng Quả.
11-.Trời Nghiêm Sức.
Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Hữu Sắc”.
Người sống ở cõi Trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ là do cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương nên lúc nào họ cũng thích cảnh có màu sắc đẹp.
– Việc làm ở cõi Trời này có 3 việc như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Hữu Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ.
3- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
Loài Người ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Hữu Sắc này sinh sống thì ở thế giới loài Người phải là 2 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi cảnh đẹp.
Vì làm được 2 phần nói trên, nên khi còn ở nơi thế giới loài Người, họ tự tạo ra làn sóng nghiệp vui tươi. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, tánh Người được biến thành là Trung Thân, nên được làn sóng nghiệp bằng điện từ Âm Dương do mình tự tạo ra đó,  tự động hút đưa Trung Ấm Thân mình đến cõi trời Hữu Sắc này.
Một vị Trời ở cõi trời Hữu Sắc này được sanh ra như sau:
Tung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích vui tươi, đến với cõi Trời Hữu Sắc này. Đầu tiên là phải tìm đến đôi Trời nam và Trời nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 90 năm, 1 ngàn  ngày. Sau đó được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
– Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.


Nước Tịnh Độ:
– Có 6 hành tinh cấu tạo bằng 12 màu sắc của điện từ Âm Dương cũng rất rực rỡ và thanh tịnh.
Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?
– Vì nó cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ và thanh tịnh, là nơi dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để giúp người tu vượt ra ngoài sự cuốn hút của thế giới Vật lý Âm Dương.
Nước Tịnh Độ này có 6 hành tinh, gồm: 
1- Nước Tịnh Độ của Đức A Sơ Bệ Phật ở hướng Đông mặt trời.
2-Nước Tịnh Độ của Đức A Di Đà Phật ở hướng Tây mặt trời.
3- Nước Tịnh Độ của Đức Nguyệt Đăng Phật ở hướng Nam mặt trời.
4- Nước Tịnh Độ của Đức Diệm Kiên Phật ở hướng Bắc mặt trời.
5- Nước Tịnh Độ của Đức Phạm Âm Phật ở hướng Trên mặt trời.
6- Nước Tịnh Độ của Đức Sư Tử Phật ở hướng Dưới mặt trời.
– Vị cai quản nước Tịnh Độ này gọi là Đức Phật.
– Người sống ở các nước này gọi là Tiên nam hay Tiên nữ.
– Việc làm ở cõi Trời này có 4 việc như sau:
1- Tiên nam và Tiên nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Tiên con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Khi Tiên nữ thụ thai, liền đến ao hay hồ hoặc biển đẻ vào hoa sen đó 1 noãn Tiên. Thời gian sanh ra vị Tiên này là tùy theo sự làm phước và mong cầu của người này khi còn là 1 con người sống nơi thế giới loài Người, mà trong Cửu Phẩm Liên Hoa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có nói rất rõ.
2- Được đi lại tự do bất cứ đâu trong nước Tịnh Độ này.
3- Ngày nào cũng đi cúng các nơi thờ những Đức Phật quá khứ.
4- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Tịnh Độ này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rất rực rỡ.
– Tuổi thọ Tiên sống ở cõi Tịnh Độ này là 1 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, trước khi trở lại sống nơi thế giới loài Người thì phải qua Đức Phật A Di Đà dẫn ra ao hay hồ hoặc biển kiểm thiền, coi vị Tiên này có được giải thoát hay còn bị đi trong Lục đạo luân hồi nữa.
Bằng cách, Đức Phật A Di Đà bẻ 1 cành hoa sen đưa cho vị Tiên ấy xem, nếu vị Tiên ấy nhìn thấy cành hoa sen mà thấy được bằng tánh thanh tịnh Phật tánh của chính mình, thì vị vị Tiên ấy sẽ được Đức Phật A Di Đà xác nhận bằng câu: "Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”.
Rồi Đức Phật A Di Đà dạy vị Tiên này 8 phần tuyệt mật trong một Tam giới như:
1- Phật giới.
2- Số lượng hành tinh trong Tam giới.
3- Tại sao bị luân hồi.
4- Làm sao được ra ngoài vòng luân hồi.
5- Tạo ra phước đức để làm gì.
6- Tạo ra công đức để làm chi.
7- Một vị Phật được hình thành như thế nào.
8- Nhiệm vụ của một vị Phật.
Tám phần dạy nói trên, vị Tiên ấy khi đã học xong, Đức Phật A Di Đà mới đưa vị Tiên ấy trở lại thế giới loài Người, đến gần chỗ “Mạch nguồn thiền Thanh tịnh” đang phổ biến.  Nhờ vậy, khi vị này vừa nghe đến 2 tiếng “Thiền tông”, tự nhiên nhớ lại tất cả những gì mà Đức Phật A Di Đà đã dạy họ.
– Còn ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 2 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều.
B- Ngày nào cũng mong muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống. Khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến nước của Ngài.

Nhà sưu tầm Thiền học Phật giáo kiêm soạn giả Nguyễn Nhân, tức Nguyễn Công Nhân

Xem thêm: Thiền Tông

#thientong #cankhonvutru #cuocdoicuaducphat